Trần Hữu Quang

……..

Theo Berger và Luckmann, trong quá trình tương giao giữa con người với nhau, mỗi cá nhântiến hành việc điển hình hóa cách xử sự của người khác, và người khác cũng làm như thế đối với cá nhân. Những sự điển hình hóa hỗ tương này được tích lũy dần dần vào trong kho kiến thức chung của cộng đồng hay xã hội. Đây chính là lúc mà định chế bắt đầu hình thành: “Sự định chế hóa diễn ra mỗi khi có một sự điển hình hóa hỗ tương đối với những hành động đã-được-tập-quán-hóa của một số loại điển hình tác nhân nào đó” (tr. 72). Điều quan trọng ở đây là sự điển hình hóa không chỉ diễn ra đối với các hành động, mà kể cả đối với các tác nhân.

Do vậy, kết quả của những sự điển hình hóa chính là hình thành nên các vai trò. “Định chế đặt định rằng những hành động theo điển hình X sẽ được thực hiện bởi những tác nhân thuộcđiển hình X. Chẳng hạn, định chế pháp luật đặt định rằng phải chặt đầu theo những cách thức đặc thù nào đó trong những hoàn cảnh đặc thù nào đó, và những điển hình cá nhân đặc thù nào đó sẽ thi hành việc chặt đầu (chẳng hạn các đao phủ, hoặc các thành viên của một đẳng cấp ô uế, hoặc những trinh nữ dưới một độ tuổi nào đó, hoặc những người đã được chỉ định bởi một lời sấm truyền)” (tr. 72).

Mỗi định chế đều có sử tính (historicity) của nó. Vì thế, Berger và Luckmann nhấn mạnh rằng “sẽ không thể hiểu được một định chế một cách xác đáng nếu không hiểu quá trình lịch sử mà trong đó nó được sản sinh ra” (tr. 72).

Mặt khác, định chế luôn luôn bao hàm sự kiểm soát. Nó “kiểm soát cách xử sự của con người bằng cách thiết lập các khuôn mẫu xử sự định sẵn, các khuôn mẫu này lèo lái cách xử sự đi theo một hướng nào đó nhất định chứ không đi theo những hướng khác” (tr. 72). Docác thế hệ đến sau thường gặp khó khăn trong chuyện tuân thủ, nên trật tự định chế thường“phải thiết lập ra các biện pháp chế tài” (tr. 80). “Trẻ em phải được ‘dạy cách cư xử’, và một khi đã được dạy thì chúng phải ‘tuân theo khuôn phép’. Người lớn cũng buộc phải như vậy, lẽ dĩ nhiên” (tr. 80).

Sự định hình của các vai trò chính là kết quả của sự điển hình hóa trong tiến trình định chếhóa. Trong cuốn Lời mời đến với xã hội học (1963), tức ba năm trước khi xuất bản cuốn Sựkiến tạo xã hội về thực tại, P. Berger từng đưa ra một định nghĩa rất cô đọng về khái niệm vai trò: vai trò là “một phản ứng điển hình đối với một kỳ vọng điển hình” (P. Berger, 1963, tr. 95).[6] Nói cách khác, cộng đồng xã hội đã qui định sẵn lối xử sự điển hình của mỗi vai trò. Tuy nhiên, vai trò không chỉ là một khuôn mẫu xử sự có sẵn, mà còn bao hàm cả những cảm xúc và thái độ thuộc về khuôn mẫu này. Hơn nữa, những cảm xúc và thái độ này cũngcó tác dụng củng cố và thúc đẩy tác nhân phải đảm nhiệm vai trò của mình một cách trọn vẹn. Berger viết: “Người ta sẽ cảm thấy nồng nàn hơn khi đang hôn, khiêm nhường hơn khi đang quì gối […]. Nghĩa là, nụ hôn không chỉ biểu hiện sự nồng nàn mà còn sản sinh ra sự nồng nàn.” Vị giáo sư khi tỏ ra vẻ uyên bác lúc giảng bài thì cũng sẽ đến lúc cảm thấy mình uyên bác. Vị giáo sĩ thấy mình tin thực sự vào những điều mình đang thuyết giáo. Người lính thấy trỗi dậy tinh thần quân nhân khi khoác lên mình bộ quân phục (P. Berger, 1963, tr. 96; xem thêm Trần Hữu Quang, 2011, tr. 72-80).

Mỗi vai trò luôn luôn bao hàm những khuôn mẫu xử sự chuẩn định mà mọi người thừa nhận,xét trong mối liên hệ với những vai trò khác trong cùng một định chế. Một thí dụ về vai trò của người cậu đối với đứa cháu trong mối liên hệ cậu-cháu: “người ta có thể chấp nhận người anh/em vợ đánh đòn đứa con hỗn láo của mình”, vì hiểu đây là lối xử sự chuẩn định điển hình của mối liên hệ cậu-cháu và là “một khuôn mẫu mà ai cũng thừa nhận trong một xã hội cư trú bên nhà vợ” (tr. 90).

Một định chế luôn luôn tự biểu lộ chính mình thông qua các vai trò, xét trên hai cấp độ. “Trước hết, việc đảm nhiệm vai trò thể hiện chính nó [tức vai trò – THQ]. Thí dụ, tham gia vào việc xét xử chính là thể hiện vai trò quan tòa. Cá nhân vị quan tòa không hành động ‘theo ý mình’, mà với tư cách của một vị quan tòa. Kế đến, vai trò thể hiện cả một mạng lưới bao gồm những cách xử sự nhất định trong lòng định chế. Vai trò của vị quan tòa nằmtrong mối liên hệ với các vai trò khác, và toàn bộ các vai trò ấy cấu tạo nên định chế luật pháp. Vị quan tòa hành động như người đại diện cho định chế này” (tr. 92).

Định chế được Berger và Luckmann ví như một “kịch bản chưa được viết ra của một vở kịch”, trong đó các hành động và xử sự của các vai trò đều “đã được lập trình” sẵn (tr. 92). “Sự hiện thực hóa vở kịch phụ thuộc vào việc các diễn viên/tác nhân [actors] còn-đang-sốngdiễn đi diễn lại những vai [roles] đã được ấn định trong vở kịch. Các diễn viên/tác nhân làhiện thân của các vai và hiện thực hóa vở kịch bằng cách trình diễn nó trên sân khấu hữuquan. Cả vở kịch lẫn định chế đều không tồn tại thực sự bên ngoài sự trình diễn trở đi trở lạinày” (tr. 92). Nói khác đi, nếu không có diễn viên, nếu vở kịch không được trình diễn, thì sẽ không có vở kịch, không có định chế. “[C]hính các vai trò làm cho các định chế có thể tồn tại và luôn luôn tồn tại như một sự hiện diện có thực trong kinh nghiệm của các cá nhân đang sống” (tr. 92).

  1. Sự biện chứng của xã hội

Chính ở điểm vừa nêu trong đoạn trên mà chúng ta thấy bộc lộ “sự biện chứng căn bảncủa xã hội” xét như “một hiện tượng mang tính toàn cầu” (tr. 96): về mặt trật tự định chế, “xã hội chỉ tồn tại khi các cá nhân có ý thức về nó” và khi các cá nhân hiện thực hóa trật tựđịnh chế thông qua những vai mà họ đóng; còn về mặt vai trò cá nhân, “ý thức cá nhân được định đoạt về mặt xã hội”, bởi lẽ “chính là xuất phát từ trật tự định chế này mà [các vai trò]mới có được ý nghĩa khách quan của chúng” (tr. 96).

Theo Berger và Luckmann, sự biện chứng của xã hội bao gồm ba mô-men[7] căn bản sauđây: sự ngoại thể hóa (externalization), sự khách thể hóa (objectivation), và sự nội tâm hóa (internalization) (tr. 149). Nói một cách vắn tắt: trong cuộc sống của mình, con người tựngoại thể hóa, tự xuất nhượng chính mình ra bên ngoài (thông qua ngôn ngữ, thông quaviệc diễn đạt suy nghĩ và cảm xúc, thông qua hành động, v.v.), khách thể hóa những điều đã-được-ngoại-thể-hóa thành thực tại khách quan (sản phẩm cuối cùng của tiến trình này là trật tự định chế, là thực tại “thế giới xã hội”), và nội tâm hóa cái thực tại ấy, tức là tiến trình mà nhờ đó “thế giới xã hội vốn đã được khách thể hóa sẽ được phóng chiếu ngược trở lại vào trong ý thức trong suốt tiến trình xã hội hóa” (tr. 78-79). Ba mô-men này không diễn ra tuần tự theo thời gian, bởi lẽ “cả xã hội và mỗi bộ phận của nó đều mang đặc trưng là cóđồng thời cả ba mô-men ấy” (tr. 149), nhưng chúng vừa song hành với nhau, vừa tác động lẫn nhau – chính vì thế mới gọi đây là sự biện chứng.

Mỗi cá nhân thành viên của xã hội “cùng một lúc vừa ngoại thể hóa chính con người của mình vào trong thế giới xã hội, vừa nội tâm hóa thế giới xã hội này như một thực tại khách quan” (tr. 149). Nói cách khác, “sống trong xã hội là tham gia vào sự biện chứng của nó” (tr. 149). Đó là điều mà nhà triết học hiện sinh Pháp Jean-Paul Sartre cũng từng nói khi khai triển ý tưởng theo hướng của Hegel: đó là “quá trình nội tâm hóa cái ngoại tại và quá trình ngoại thểhóa cái nội tại[8]”.

Theo Berger và Luckmann, chúng ta có thể mô tả “ba mô-men biện chứng” nêu trên bằng ba mệnh đề căn bản sau đây: “Xã hội là một sản phẩm của con người. Xã hội là một thực tại khách quan. Con người là một sản phẩm của xã hội” (tr. 79, do chính hai tác giả nhấn mạnh).[9] Và hai tác giả lưu ý rằng “một sự phân tích về thế giới xã hội mà bỏ quên bất kỳ một trong ba mô-men này thì sẽ bị méo mó” (tr. 79).

Theo hai tác giả, giới xã hội học Mỹ “đương đại” (tức tính tới giữa thập niên 1960, lúc xuất bản cuốn sách này) thường “bỏ quên” cái mô-men đầu tiên (tức là sự ngoại thể hóa, tương ứng với mệnh đề “xã hội là một sản phẩm của con người”). Chính vì thế, “nhãn quan của họ về xã hội có xu hướng đi đến cái mà Marx gọi là một sự vật hóa (Verdinglichung), nghĩa là, một sự bóp méo mang tính chất phi biện chứng đối với thực tại xã hội, [sự bóp méo này] làm che khuất cái đặc tính của thực tại xã hội xét như là một quá trình sản xuất đang tiếpdiễn của con người, và thay vào đó, nó nhìn thực tại xã hội thông qua những phạm trù giống như đồ vật [thing-like] vốn chỉ thích hợp với thế giới tự nhiên” (chú thích số 29, tr. 222).[10]

Theo Berger và Luckmann, thực ra sự “vật hóa” chính là “chặng tột cùng của tiến trình khách thể hóa, trong đó thế giới đã-được-khách-thể-hóa mất đi khả năng được lãnh hội như một công trình của con người, và đi đến chỗ ám ảnh [con người] giống như thể nó là một kiện tính phi nhân tính, không thể nhân tính hóa, và đầy quán tính” (tr. 106).

Những con người cá nhân trong đời sống thường nhật không còn nhìn ra thế giới này là “công trình của mình” nữa. “Mối quan hệ thực thụ giữa con người với thế giới của mình thường bị đảo ngược trong ý thức”, bởi lẽ một mặt “[c]on người, nhà sản xuất ra một thế giới, được nhìn như sản phẩm của thế giới”, và mặt khác, “hoạt động của con người được nhìn như một hiện tượng phụ đi kèm theo những quá trình nằm ngoài con người” (tr. 106-107).

Nhưng “[n]gay cả khi đang lãnh hội thế giới như là cái đã được vật hóa, thì con người vẫn tiếp tục sản xuất ra nó” (tr. 107). Nói cách khác, “một cách đầy nghịch lý, con người có khả năng sản xuất ra một thực tại sẽ phủ nhận chính anh ta” (tr. 107).[11]

Tuy nhiên, Berger và Luckmann nhấn mạnh rằng chuyện quan trọng mấu chốt mà chúng ta cần ghi nhận, đó là “mối quan hệ giữa con người, [xét như là] nhà sản xuất, với thế giới xã hội, [xét như là] sản phẩm của anh ta, là và luôn luôn là một mối quan hệ mang tính biện chứng”: nghĩa là, một mặt “con người […] và thế giới xã hội của anh ta tương tác lẫn nhau”,và mặt khác, “[s]ản phẩm tác động ngược trở lại nhà sản xuất” (tr. 78).

(còn tiếp)

Nguồn: Tạp chí Khoa học xã hội, số 6 (202), 2015, tr. 77-88

——

Chú thích

[6] Nguyên văn: “A role […] may be defined as a typified response to a typified expectation” (P. Berger, 1963, tr. 95).

[7] Khi dịch thuật ngữ “ das Moment” của nhà triết học Đức Georg W.F. Hegel trong cuốn Hiện tượng học tinh thần, nhà triết học Bùi Văn Nam Sơn đã sử dụng từ phiên âm ra tiếng Việt là “mô-men”, với lời giải thích như sau: mô-men “vừa là yếu tố bản chất hay phương diện (Seite) của một toàn bộ xét như một hệ thống tĩnh tại, vừa là một giai đoạn bản chất trong một toàn bộ xét như một tiến trình vận động biện chứng” (xem G. W. F. Hegel, 2006, xem chú thích số 8 của Bùi Văn Nam Sơn, tr. 4-5).

[8] Nguyên văn: “intériorisation de l’extérieur et extériorisation de l’intérieur” (J.-P. Sartre, Questions de méthode (1960), Paris, Gallimard, Coll. “Tel”, 1986, tr. 90-92, dẫn lại theo P. Corcuff, 1995, tr. 18).

[9] Nguyên văn: “Society is a human product. Society is an objective reality. Man is a social product” (Berger và Luckmann, 1971, tr. 79).

[10] Ở một đoạn sau, Berger và Luckmann diễn giải về sự vật hóa (reification) như sau: “Sự vật hóa là sự lãnh hội các hiện tượng của con người như thể chúng là những đồ vật, tức là, theo nghĩa nằm ngoài con người [non-human] hay cũng có thể nằm bên trên con người [supra-human]. Một cách diễn đạt khác về điều này: sự vật hóa là sự lãnh hội các sản phẩm của hoạt động của con người như thể chúng là cái gì đó không phải là sản phẩm của con người – giống như các sự kiện của thiên nhiên, các kết quả của các định luật vũ trụ, hoặc những sự biểu hiện của ý chí thần thánh” (Berger và Luckmann, 1971, tr. 106).

[11] Trong chú thích số 61, Berger và Luckmann giải thích thêm rằng “chính vì lý do này mà Marx đã gọi ý thức vật hóa [reifying consciousness] là một ý thức lầm lạc [false consciousness]”, và điều này cũng có liên quan tới “khái niệm ‘ngụy tín’ (mauvaise foi) của Sartre” (P. Berger và T. Luckmann, 1971, tr. 225).

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s