4/ Kết hợp văn võ. Nói theo lời lẽ của Việt Nam là “kết hợp giữa kinh tế và quốc phòng”. Trên các đảo và bãi đá của quần đảo Nam Sa của Trung Quốc mà Việt Nam xâm chiếm, họ không những chú trọng tăng cường lực lượng quân sự mà còn đồng thời chú trọng phát triển kinh tế, mà phát triển kinh tế cuối cùng vẫn là nhằm tranh đoạt chủ quyền lãnh thổ. Về mặt quân sự, Việt Nam phái một đơn vị quân đội khoảng 350 người đóng tại 5 hòn đảo mà Việt Nam khống chế và có pháo lớn và pháo cao xạ ở bờ biển phối hợp. Xây dựng bãi hạ cánh cho máy bay lên thẳng tại một số đảo. Về mặt kinh tế, báo chí quyền uy của Việt Nam thừa nhận, gần đây Việt Nam bước đầu tổ chức lực lượng các mặt, thực hiện một số hạng mục “kết hợp kinh tế và quốc phòng” trên quần đảo Nam Sa, như: “xây dựng cảng ở đảo Trường Sa Lớn (tức là đảo Nam Uy), xây dựng tháp đèn trên đảo và bãi đá như đảo Song Tử Tây (tức đảo Nam Tử), bãi Đá Lạt (tức là bãi đá Nhật Tích), bãi đá Tây…, xây tháp đèn và hệ thống phao nổi trên thềm lục địa Nam Bộ, di dân tới định cư sinh sống trên đảo, cho ngư dân đưa thuyền tới Trường Sa và thềm lục địa đánh cá và khai thác hải sản…” và xây dựng trên đảo do Việt Nam kiểm soát một trạm thu mặt đất truyền hình vệ tinh. Để khuyến khích ngư dân tới quần đảo Nam Sa đánh cá, chính phủ Việt Nam thực hiện miễn thuế cho việc khai thác và vận chuyển hải sản ở vùng nước quần đảo Nam Sa, do vậy mấy năm này tàu đánh cá Việt Nam tới vùng biển Nam Sa đánh cá tăng lên nhanh chóng, “năm 1993 có 94 tàu đánh cá tại Trường Sa, thu được 5,6 tấn cá vây nhám, 250 tấn thịt cá vây nhám, 180 tấn cá hồng. Mấy tháng đầu năm nay, đã có 150 tàu thuyền, 1200 lao động đi đánh cá, bình quân mỗi lần ra khơi có thể đánh được 2 tấn cá hồng, cá thạc ban, bình quân thu được tới 9 triệu đồng”. Hai năm nay, Việt Nam tăng cường cùng nước ngoài thăm dò dầu khí ở vùng biển Nam Sa, đã xây dựng trạm khoa học, trạm khí tượng thủy văn, trạm nghiên cứu nguồn dầu khí trên một số đảo và bãi đá. Quyền Giám đốc Trung tâm khí tượng thủy văn trên biển của Việt Nam Nguyễn Thế Tường nói: “Trạm khoa học sẽ dùng vào việc nghiên cứu khoa học trên biển và dùng để nhấn mạnh chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Spratly”. Một quan chức chính phủ Việt Nam nói càng thấu triệt hơn: “Chính sách của chúng ta hiện nay là duy trì sự có mặt của chúng ta trên tất cả các đảo này”, “chúng ta không muốn làm kinh động người Trung Quốc, biện pháp kinh tế tuyệt vời hơn”. Có thể thấy, nhà đương cục Việt Nam đang vận dụng thủ đoạn kinh tế để ngấm ngầm tăng cường yêu cầu chủ quyền của họ đối với quần đảo Nam Sa của Trung Quốc.

Tranh chấp trên biển và quan hệ Trung – Việt

Về vấn đề quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa từ năm 1974 trở về trước, hai nước Trung – Việt không có bất đồng, Việt Nam luôn cho rằng hai quần đảo nói trên là thuộc về lãnh thổ Trung Quốc. Năm 1975 về sau, căn bản Việt Nam đã thay đổi lập trường, đưa ra yêu cầu lãnh thổ đối với quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa, và tháng 4 năm 1975 đưa quân chiếm 6 đảo thuộc quần đảo Nam Sa của Trung Quốc. Từ trước đó hai nước Trung Quốc và Việt Nam có sự bất đồng có tính nguyên tắc về vấn đề quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa. Cùng với việc Việt Nam mở rộng xâm chiếm quần đảo Nam Sa, bất đồng Trung – Việt trong vấn đề này cũng ngày càng sâu thêm. Tháng 3 năm 1988, cuối cùng giữa Trung Quốc và Việt Nam đã xảy ra xung đột vũ trang ngắn tạm thời tại quần đảo Nam Sa. Lúc bấy giờ Trung Quốc và Việt Nam đang ở trong tình trạng đối kháng do vấn đề Campuchia, không thể tiến hành bất kỳ sự đối thoại nào về vấn đề trên biển. Từ tháng 11 năm 1991, khi quan hệ Trung – Việt bình thường hóa đến nay, bất đồng giữa hai nước về vấn đề quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa tuy không nung thành xung đột, nhưng cũng không ngừng tranh chấp. Phía Trung Quốc, trước việc Việt Nam xây dựng quân cảng tại một số đảo thuộc Nam Sa, cùng nước ngoài tiến hành khảo sát tại Nam Sa, cùng công ty nước ngoài tiến hành thăm do dầu khí tại Nam Sa, gây khó khăn cho khảo sát khoa học và hoạt động ngư nghiệp bình thường của Trung Quốc, chính thức đưa ra yêu cầu lãnh thổ đối với hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa…, Trung Quốc đều dùng phương thức người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc trả lời phỏng vấn của phóng viên để đưa ra sự phê phán và làm rõ lập trường của chính phủ Trung Quốc. Phía Việt Nam, đối với Luật lãnh hải và luật biên giới do Trung Quốc ban hành, việc Tổng công ty Dầu khí Hải Dương Trung Quốc và Công ty Mỹ thăm dò dầu mỏ tại Nam Sa…, Việt Nam đều dùng phương thức Bộ Ngoại giao Việt Nam gửi công hàm cho Bộ Ngoại giao Trung Quốc, người phát ngôn Bộ Ngoại giao trả lời phỏng vấn của phóng viên, rồi báo đảng, báo quân đội đăng bài chỉ trích Trung Quốc. Trong tranh chấp các vấn đề trên biển, gữa Trung Quốc và Việt Nam từng xảy ra những vụ đụng độ. Ngày 25 tháng 2 năm 1992 Trung Quốc ban bố Luật lãnh hải Luật Biên giới, một lần nữa làm rõ quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa là một phần lãnh thổ lục địa Trung Quốc. Ngày 8 tháng 5 cùng năm, Tổng công ty Dầu khí Hải Dương Trung Quốc và Công ty Năng lượng Crestone Mỹ ký hợp đồng “Bắc Vạn An – 21”. Trước hai sự kiện trên, Bộ Ngoại giao Việt Nam hai lần, vào ngày 4 tháng 3 và ngày 16 tháng 5, gửi công hàm cho Bộ Ngoại giao Trung Quốc, tuyên bố 2 quần đảo Tây Sa và Nam Sa là lãnh thổ Việt Nam, công kích Luật lãnh hải của Trung Quốc là “tạo thêm vấn đề phức tạp mới”. Nói rằng hợp đồng “Bắc Vạn An – 21” sẽ “dẫn đến nguy cơ mất ổn định khu vực”, “đi ngược lại quá trình bình thường hóa quan hệ Việt – Trung”. Trong thời gian này, ở trong nước, nhà đương cục Việt Nam truyền đạt cuộc tranh chấp Trung – Việt nói trên, nhất thời ở Việt Nam có dẫn đến xu thế bất lợi cho sự phát triển quan hệ Việt – Trung. Nhưng xu thế này lắng địa rất nhanh bởi vì nhà đương cục Việt Nam cảm thấy làm như vậy sẽ đem lại hậu quả xấu cho sự phát triển kinh tế của Việt Nam, vấn đề trên biển lại nhất thời được giải quyết. Tháng 6, tháng 7 năm 1992, Chủ tịch Ủy ban Thềm lục địa thuộc Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam là Lê Minh Nghĩa và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm trước sau tỏ ý muốn thông qua đàm phán giải quyết tranh chấp. Giữa mùa Hạ, mùa Thu năm 1994 lại xảy ra đụng độ giữa 2 nước Trung – Việt tại vùng bãi Vạn An quần đảo Nam Sa của Trung Quốc vì vấn đề thăm dò dầu khí. Trước sau thời gian này, Việt Nam tuyên bố với nước ngoài và đăng bài nhấn mạnh vùng bãi Vạn An không thuộc về quần đảo Nam Sa, mà nằm trong thềm lục địa Việt Nam; đồng thời Việt Nam khoanh vùng tại khu vực này để tiến hành gọi thầu nước ngoài, ký với một số công ty nước ngoài các hợp đồng khai thác dầu khí, và đi vào vùng biển Vạn An tiến hành thăm do dầu khí. Những việc làm này của Việt Nam không những nhiều lần gây khó khăn cho khảo sát khoa học và hoạt động ngư nghiệp của Trung Quốc, mà còn làm tổn hại nghiêm trọng đến việc thực thi hợp đồng “Bắc Vạn An – 21” Nam Sa mà Trung Quốc ký với công ty Mỹ. Tuy lúc bấy giờ giữa Trung Quốc và Việt Nam có xảy ra một số vụ đụng độ ở vùng bãi Vạn An, Nam Sa, nhưng tuyệt nhiên không ảnh hưởng bất lợi tới sự hợp tác hữu nghị giữa hai nước Trung – Việt. Đây là sự thay đổi rõ rệt của Việt Nam trong việc xử lý vụ tranh chấp lần nay so với việc xử lý vụ tranh chấp năm 1992 nói trên, tức là tách cục bộ ra khỏi đại cục để xử lý. Thái độ của Trung Quốc đối với sự tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam về các vấn đề trên biển là nhất quán, tức là Trung Quốc có chủ quyền không thể chối cãi đối với quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa cùng vùng biển phụ cận. Nếu có tranh chấp trong vấn đề này, Trung Quốc và Việt Nam có thể ngồi lại với nhau, thông qua phương thức hòa bình hữu nghị để giải quyết, nhất thời giải quyết không được thì hai bên đều kiềm chế, kông để những vấn đề này ảnh hưởng đến việc cải thiện và phát triển quan hệ giữa hai nước.

Người ta chú ý thấy rằng hơn 3 năm sau khi quan hệ Trung – Việt bình thường hóa đến nay, tuy hai nước không ngừng tranh chấp về các vấn đề trên biển, thậm chí xảy ra một số vụ đụng độ, nhưng quan hệ giữa hai nước vẫn được cải thiện và phát triển. Biểu hiện thứ nhất là các cuộc qua lại hữu nghị giữa hai nước liên tục diễn ra. Mấy năm nay, các cuộc qua lại quan trọng của các cấp tương đối cao giữa hai nước Trung – Việt gồm: năm 1992, phía Việt Nam nhận lời mời đưa đoàn tới Trung Quốc thăm và làm việc có: Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức TW ĐCS Việt Nam Lê Phước Thọ, Bí thư Trung ương Trưởng ban Kinh tế TW ĐCS Việt Nam Nguyễn Hà Phan, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Việt Nam Phạm Hưng, Cố vấn TW ĐCS Việt Nam Bùi Danh Lưu, Trưởng ban Y tế và Xã hội Quốc hội Việt Nam Nguyễn Thị Thêm, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Đoàn Khuê. Phía Trung Quốc nhận lời mời tới Việt Nam thăm có Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Tiền Kỳ Tham, Thủ tướng Quốc vụ viện Lý Bằng. Năm 1993 phía Việt Nam nhận lời mời mới đưa đoàn tới Trung Quốc thăm hoặc làm việc có: Nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam Võ Nguyên Giáp và Phu nhân, Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Vũ Khoan, Ủy viên BCT, Bí thư TW ĐCS Việt Nam Nguyễn Đức Bình, Phó giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Trần Ngọc Hiên, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Nguyễn Văn Kết, Ủy viên BCT ĐCS Việt Nam, Bí thư thành ủy Hà Nội Phạm Thế Duyệt, Chủ tịch Nhà nước Việt Nam Lê Đức Anh. Phía Trung Quốc nhận lời mời tới Việt Nam làm việc có: Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Đường Gia Triền.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Như

Nguồn: TĐB 96 – 10 & 11

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s