Bảng 6.6: Điểm khác biệt chính giữa xã hội có tâm lý tránh bất định cao và tâm lý tránh bất định thấp
V. Sự khoan dung – Tôn giáo – Tư tưởng
Tránh bất định thấp Tránh bất định cao
Con người khoan dung hơn Có nhiều thành kiến giữa các dân tộc
Thái độ tích cực hoặc trung lập đối với người nước ngoài Có tư tưởng bài xích ngoại lai
Chấp nhận người nhập cư, tị nạn Không chấp nhận người nhập cư, tị nạn
Chủ nghĩa dân tộc: phòng thủ, tự vệ Chủ nghĩa dân tộc: công kích, gây hấn
Nguy cơ xung đột giữa các nhóm bạo lực ở mức thấp Nguy cơ xung đột giữa các nhóm bạo lực ở mức cao
Chấp nhận mọi tôn giáo Chấp nhận một tôn giáo duy nhất
Mọi điều răn dạy đều có thể thay đổi khi không phù hợp Con người sẽ trở thành tội nhân, phải ăn năn nếu không tuân theo điều răn dạy
Không áp đặt niềm tin tôn giáo, chính trị hay tư tưởng Nhiều áp đặt, bất dung đối với khác biệt tôn giáo, chính trị hay tư tưởng
Triết học, khoa học tiếp cận đến chủ thuyết tương đối, chủ thuyết duy nghiệm Triết học, khoa học tiếp cận đến các học thuyết lớn
Tình bạn tồn tại trong sự cạnh tranh Tình bạn không tồn tại trong sự cạnh tranh
Văn học hướng về thế giới tưởng tượng Văn học nhằm vào chân lý và các nguyên tắc

Nguồn gốc có thể đưa đến những khác biệt trong phạm trù khoảng cách quyền lực đã được tìm hiểu. Việc phân nhóm các nước cũng chỉ ra rằng nguồn gốc đưa đến những khác biệt nên được lần tìm từ thời kỳ đế chế La Mã cách đây 2000 năm. Ở Tây Á, các nguồn gốc này được giả định xuất phát từ thời kỳ Trung Hoa cổ đại. Cả hai đế chế này đều để lại đặc điểm về khoảng cách quyền lực lớn.

Trong phạm trù tránh tâm lý bất định, một lần nữa chúng ta lại thấy các nước nói ngôn ngữ Roman có cùng quan điểm với nhau. Tất cả người kế tục của đế chế Roma đều có tâm lý tránh bất định mạnh mẽ. Các nước nói tiếng Trung Quốc như Đài Loan, Hong Kong và Singapore có chỉ số tâm lý tránh bất định thấp, tương tự như các nước có thành phần thiểu số quan trọng có gốc Trung Quốc như Thái Lan, Indonesia, Philippines và Malaysia.

Đế chế Roma và Trung Quốc là những nước có chính quyền tập trung hùng mạnh, đảm bảo cho mô hình văn hóa trong cộng đồng dân cư sẵn sàng thực thi mệnh lệnh từ trung ương. Tuy nhiên hai đế chế này lại khác nhau trong một khía cạnh quan trọng. Đế chế Roma đã xây dựng một hệ thống luật pháp chính thống duy nhất, về nguyên tắc được áp dụng cho tất cả mọi công dân bất kể nguồn gốc. Đế quốc Trung Hoa chưa từng biết đến khái niệm luật pháp như vậy. Nguyên tắc chính trong chính quyền Trung Hoa được mô tả là “chính quyền của con người” đối lập hoàn toàn với tư tưởng Roma “chính quyền theo luật pháp”. Các thẩm phán Trung Quốc được chỉ lối dẫn đường bởi những nguyên tắc chung phổ quát, giống như các nguyên tắc của Khổng Tử.

Sự đối lập giữa hai luồng tư tưởng đã lý giải một thực tế rằng các nhân viên của IBM đến từ các nước được thừa hưởng truyền thống Roman thì có chỉ số tránh tâm lý bất định cao hơn nhân viên đến từ các nước được thừa hưởng luồng tư tưởng Trung Hoa. Đây chính là ví dụ minh họa hùng hồn khác về nguồn gốc lịch sử sâu xa của các điểm khác biệt văn hóa ở mỗi nước. Lịch sử lâu năm của các đế chế này khiến chúng ta kỳ vọng dè dặt về những thay đổi cơ bản trong những khác biệt về giá trị trong thời đại chúng ta.

Những khác biệt về khoảng cách quyền lực có liên hệ về mặt thống kê với vĩ độ địa lý, quy mô dân số và mức độ giàu nghèo. Đối với tâm lý tránh bất định thì không tìm thấy mối liên hệ bao quát như vậy. Mối tương quan giữa chỉ số UAI và mức tăng trưởng kinh tế dao động theo vùng và theo giai đoạn. Chỉ số UAI tỷ lệ nghịch với tốc độ tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 1925 – 1950, vì các nước có tâm lý tránh bất định mạnh tham gia tích cực hơn vào Thế chiến II, và nền kinh tế các nước này bị tổn thất nặng nề. Sau năm 1950, mối liên hệ này đã đảo chiều khi các nền kinh tế dần khôi phục. Nhìn chung, phân tích thống kê không giúp xác định nguồn gốc chung của tâm lý tránh bất định mạnh hoặc yếu, ngoài yếu tố lịch sử.

Tương lai của những khác biệt trong tâm lý tránh bất định

Chỉ số UAI dựa trên nghiên cứu của IBM không phải sẵn có trong mọi giai đoạn, và chúng ta biết rằng không có nghiên cứu nào đánh giá các chỉ số tương tự dọc suốt chiều dài thời gian cho bất kỳ nước nào. Richard Lynn đã cung cấp các dữ liệu lịch sử thú vị về sự biến đổi của tâm lý lo âu tương quan với chỉ số UAI như chúng ta đã đề cập ở phần trước. Lynn có thể theo dõi được mức độ lo âu của 18 quốc gia từ giai đoạn 1935 đến 1970. Năm nước có chỉ số lo âu cao nhất năm 1935 là Áo, Phần Lan, Đức, Italy và Nhật Bản: quyền lực của nhóm liên minh trong Thế chiến II và hai nước tham chiến để tự vệ. Từ năm 1935 đến 1950, mức độ lo âu ở tất cả các nước bại trận hoặc bị chiếm đóng trong Thế chiến II tiếp tục gia tăng, trong khi tâm lý lo âu của 6 trong số 9 nước không bị bại trận hay chiếm đóng đều giảm xuống. Tổng chỉ số lo âu trung bình đạt ngưỡng cao nhất năm 1950, ngay sau cuộc chiến, sau đó giảm dần xuống đến năm 1965, sau đó lại tiếp tục tăng lên.

Dữ liệu của Lynn chỉ ra rằng mức độ lo âu của một nước có dao động và tâm lý lo âu nặng nề thường gắn liền với thời kỳ chiến tranh. Đây có vẻ như là giả định hợp lý rằng làn sóng lo âu tương tự trước đấy có lên cùng với Thế chiến I và nhiều cuộc chiến trước đó. Quy trình có thể diễn ra như sau: khi tâm lý lo âu ở một nước tăng cao, tâm lý tránh bất định cũng tăng theo. Điều này được phản ánh rõ ràng trong thái độ cố chấp, bài ngoại, cuồng tín và tất cả dạng thức biểu hiện khác của tâm lý tránh bất định đã mô phỏng trong bài này. Quyền lãnh đạo rơi vào tay của những phe cuồng tín và có thể đẩy đất nước đến bờ vực chiến tranh. Tất nhiên, chiến tranh sẽ kéo theo các nước khác không có tư tưởng cuồng tín như vậy song có thể làm dấy lên tâm lý lo lắng về mối hiểm họa của cuộc chiến.

Những nước trải qua cuộc chiến trên lãnh thổ của họ thì tâm lý lo âu còn gia tăng hơn nhiều. Sau cuộc hiến, tâm lý căng thẳng sẽ được giải tỏa, đầu tiên là đối với những nước không bị ảnh hưởng trực tiếp, một vài năm sau là các nước bắt đầu công cuộc tái thiết. Tâm lý lo âu giảm xuống và thái độ dung hòa gia tăng, tuy nhiên một vài năm sau xu hướng này lại đảo chiều và hình thành làn sóng lo âu mới có thể ngăn chặn mâu thuẫn mới nảy sinh. Các quá trình kinh tế cũng đóng vai trò; thời kỳ hưng thịnh gia tăng càng tạo điều kiện củng cố chủ nghĩa cá nhân và sự kết hợp dễ bùng nổ giữa tâm lý tránh bất định mạnh với chủ nghĩa tập thể của người nghèo (Hình 6 – 2).

Phá vỡ vòng xoáy khắc nghiệt này đòi hỏi phải có hành động phối hợp trên quy mô quốc tế. Một ví dụ điển hình là các nước thành viên tham gia vào Liên minh châu Âu dù cho trước đây chưa đầy 60 năm vẫn là những kẻ tử thù. Liên hợp quốc nắm giữ tài nguyên vô hạn, tối thượng và không có lực lượng này có thể thay thế tổ chức này trong việc hợp pháp hóa các thành động vì hòa bình thế giới.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Geert Hofstede, Gert Jan Hofstede & Micheal Minkov – Văn hóa và tổ chức, phần mềm tư duy – NXB ĐHQG HN 2013.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s