Hệ thống ngôn ngữ dựa trên cơ sở thực tiễn ngôn ngữ nào?

Nếu vậy, hệ thống này là gì?

Ngay từ đầu chúng ta đã thấy rõ ràng hệ thống này thu được bằng cách trừu tượng hóa, rằng nó được tạo nên bằng những yếu tố được phân lập một cách trừu tượng từ các đơn vị thực tế của dòng chảy lời nói – những phát ngôn. Bất kỳ sự trừu tượng hóa nào, nếu muốn hợp lý, phải được biện minh bởi một mục đích lý thuyết và thực hành rõ ràng. Sự trừu tượng hóa có thể năng sản hoặc không năn sản, có thể năn sản đối với một số mục đích và nhiệm vụ nhưng lại không năng sản đối với những mục đích và nhiệm vụ khác.

Những mục đích nào nằm sau sự trừu tượng hóa ngôn ngữ học, dẫn đến hệ thống ngôn ngữ đồng đại như vậy? Một hệ thống như vậy năng sản và cần thiết theo quan điểm nào?

Cơ sở của phương pháp tư duy ngôn ngữ học dẫn đến việc coi ngôn ngữ là một hệ thống các hình thức tự đồng nhất quy chuẩn là mục đích thực tế và lý thuyết của việc nghiên cứu xác chết các ngoại ngữ, được bảo quản trong các tượng đài văn bản.

Chúng ta phải nhấn mạnh không biết mệt mỏi, rằng định hướng ngữ văn này, ở một mức độ rất đáng kể, đã quyết định toàn bộ tư duy ngôn ngữ học châu Âu. Lối tư duy này hình thành và trưởng thành trên xác chết của ngôn ngữ viết. Hầu như tất cả các phạm trù, cách tiếp cận và kỹ năng của lối tư duy này được phát triển trong quá trình làm sống lại các xác chết đó.

Xu hướng ngữ văn là một đặc tính không thể tránh khỏi của toàn bộ ngôn ngữ học châu Âu do số phận lịch sử của nó trong sự hình thành và phát triển. Khi truy tìm lịch sử của các phạm trù và phương pháp ngôn ngữ học, dù trở lại thời gian xa xưa đến mấy, ở đâu chúng ta cũng gặp các nhà ngữ văn học.

Không chỉ những tác giả người Alexandria là các nhà ngữ văn học. Cả người La Mã và người Hy Lạp cũng là các nhà ngữ văn học (Aristotle là một nhà ngữ văn học điển hình); Người Ấn Độ cũng là những nhà ngữ văn học.

Chúng ta có thể nói dứt khoát: Ngôn ngữ học xuất hiện khi và ở đâu có nhu cầu ngữ văn học. Nhu cầu ngữ văn học sinh ra ngôn ngữ học, đưa nôi cho nó, và để lại chiếc sáo ngữ văn của mình trên đống tã lót. Chiếc sáo này cần thiết để làm xác chết sống lại. Nhưng âm vực của cây sáo ấy không đủ để làm chủ lời nói sinh động trogn thực tế phát triển không ngừng của nó.

Viện sĩ N.Ia. Marr hoàn toàn chính xác khi chỉ ra bản chất ngữ văn của tư duy ngôn ngữ học Ấn – Âu:

“Ngôn ngữ học Ấn – Âu, với đối tượng nghiên cứu đã được hình thành và ổn định từ rất lâu, cụ thể là các ngôn ngữ Ấn – Âu qua các thời đại lịch sử, dựa gần như tuyệt đối trên các hình thức đông cứng của ngôn ngữ viết, trong đó trước hết là các ngôn ngữ đã chết, tất nhiên không thể soi sáng quá trình phát sinh lời nói nói chung cũng như nguồn gốc của nó”.

Hoặc ở một chỗ khác:

“Rào cản lớn nhất (đối với việc nghiên cứu lời nói người nguyên thủy, V. Voloshinov) không phải do cái khó của bản thân việc nghiên cứu hay tình trạng thiếu dữ liệu trực quan, mà do chính tư duy khoa học của chúng ta – bị trói buộc bởi thế giới quan ngữ văn học hoặc lịch sử – văn hóa truyền thống, mà không được nuôi dưỡng trên nhận thức ngôn ngữ – dân tộc học đối với lời nói sinh động trong dòng chảy sáng tạo tự do vô bờ bến của nó”.

Thật ra, những nhận định của Viện sĩ N. Ia. Marr không chỉ đúng đối với ngành Ấn – Âu học, vốn có ảnh hưởng quyết định đối với ngôn ngữ học hiện đại, mà còn đúng với toàn bộ ngôn ngữ học như chúng ta biết trong lịch sử. Ngôn ngữ học, như chúng ta đã nói, ở đâu cũng là con đẻ của ngữ văn học.

Được dẫn dắt bởi nhu cầu ngữ văn học, ngôn ngữ học luôn luôn xuất phát từ những phát ngôn độc thoại đã hoàn tất – thứ tượng đài cổ xưa – như là thực tại cuối cùng. Ngôn ngữ học đã tạo ra tất cả các phương pháp và phạm trù của mình trong khi làm việc trên những phát ngôn độc thoại đã chết này, hay đúng hơn, trên một loạt những phát ngôn như vậy được liên kết bằng ngôn ngữ chung chỉ để phục vụ cho mục đích của mình.

Nhưng phát ngôn độc thoại chỉ là sự trừu tượng hóa, cho dù, quả thật, đó là một sự trừu tượng hóa “tự nhiên”. Bất kỳ phát ngôn độc thoại nào, kể cả các tượng đài văn bản, đều là những yếu tố không thể tách rời của sự giao tiếp bằng lời nói. Bất kỳ phát ngôn nào, kể cả một phát ngôn bằng văn bản đã hoàn tất, cũng đều đáp lại một cái gì đó và đều trù tính để có một lời đáp nào đó.

Nó chỉ là một mắt xích trong một chuỗi những phát ngôn bằng lời. Bất kỳ tượng đài văn bản nào cũng tiếp tục công việc của các tiền bối, tranh cãi với họ, đều chờ đợi, dự cảm một sự hiểu hồi ứng và chủ động,… Bất kỳ tượng đài nào thực chất cũng là một phần không thể tách rời của khoa học, hoặc văn học, hoặc đời sống chính trị. Các tượng đài văn bản, cũng như mọi phát ngôn độc thoại, được sắp đặt để được tiếp nhận trong bối cảnh của đời sống, khoa học, hoặc thực tiễn văn học đang diễn ra – tức là, trong sự vận động của bầu khí quyển tư tưởng, mà nó là một yếu tố không thể tách rời.

Nhà ngôn ngữ học – ngữ văn giằng nó ra khỏi khí quyển thực tế đó, tiếp nhận nó như thể nó là một thực thể cô lập, tự đủ, áp dụng với nó không phải một sự hiểu chủ động mang tính tư tưởng, mà là một cách hiểu hoàn toàn thụ động, không hề có một mảy may hồi ứng nào như đáng lẽ phải có trong mọi sự hiểu đích thực. Nhà ngữ văn học đặt tượng đài cô lập này, với tư cách một tài liệu ngôn ngữ, trong mối tương quan với các tượng đài khác trên cùng một bình diện ngôn gữ đang bàn. Tất cả các phương pháp và phạm trù của tư duy ngôn ngữ học được hình thành trong quá trình so sánh và đối chiếu các phát ngôn độc thoại và cô lập trên cùng một bình diện ngôn ngữ như thế.

Thứ từ ngữ mà nhà ngôn ngữ học nghiên cứu, dĩ nhiên, là một ngoại ngữ đối với anh ta. Vì vậy, hệ thống các phạm trù ngôn ngữ học, hơn bất cứ điều gì, không phải là sản phẩm của suy tư nhận thức về ý thức ngôn ngữ của người nói bằng một ngôn ngữ nhất định. Đây không phải là suy tư về sự cảm nhận bản ngữ, không, đây là suy tư của một ý thức đang cố đánh phá, mở đường để thâm nhập vào cái thế giới xa lạ của ngoại ngữ.

Sự hiểu thụ động không thể tránh khỏi của các nhà ngôn ngữ học – ngữ văn được chiếu lên chính tượng đài mà anh ta đang nghiên cứu từ quan điểm ngôn ngữ, như thể tượng đài ấy được dự kiến cho một sự hiểu như vậy, như thể nó được viết ra cho nhà ngữ văn học kia.

Kết quả của tất cả những điều này là một lý thuyết hoàn toàn sai lầm về sự hiểu, trở thành cơ sở không chỉ của các phương pháp ngôn ngữ học trong diễn giải văn bản, mà còn của toàn bộ ngữ nghĩa học châu Âu. Tất cả các luận điểm về ý nghĩa và chủ đề của từ đều thấm đẫm ý tưởng sai lầm về sự hiểu thụ động, sự hiểu ngôn từ, trong đó phản ứng tích cực đã được loại bỏ từ trước như là một nguyên tắc.

Chúng ta sẽ thấy trong phần sau, rằng sự hiểu, trong đó phản ứng được loại bỏ trước, về bản chất không phải là sự hiểu ngôn ngữ – lời nói. Sự hiểu lời nói không thể tách rời việc chủ động chọn một vị thế trong mối quan hệ với điều được nói và cần được hiểu. Đặc trưng của sự hiểu thụ động là cảm nhận rõ ràng yếu tố đồng nhất của ký hiệu ngôn ngữ, nghĩa là, sự nhận biết nó về mặt tín hiệu – vật chất, và cùng với nó là vai trò áp đảo của yếu tố nhận biết.

Như vậy, ngoại ngữ – bằng văn bản – đã chết ­– đó là định nghĩa thực sự của ngôn ngữ trong tư duy ngôn ngữ học.

Phát ngôn độc thoại, hoàn tất, cô lập, tác rời khỏi bối cảnh lời nói và thực tiễn của nó, được tạo ra không phải cho khả năng có một hồi ứng tích cực, mà cho sự hiểu thụ động của nhà ngữ văn học – đó là “dữ liệu” cuối cùng và điểm xuất phát của tư duy ngôn ngữ học.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.N. Voloshinov – Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ – NXB ĐHQG HN 2015.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s