Năm 1994 phía Việt Nam nhận lời mời đưa đoàn tới Trung Quốc thăm có: Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Nông Đức Mạnh, Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam Đào Đình Luyện, Bí thư ban Bí thư TW ĐCS Việt Nam Hồng Hà, Trưởng ban Kiểm tra TW ĐCS Việt Nam Đỗ Quang Thắng, Phó Thủ tướng Việt Nam Phan Văn Khải. Phía Trung Quốc nhận lời mời tới Việt Nam thăm có: Chủ tịch Nhà nước Trung Quốc Giang Trạch Dân, Phó chủ tịch Đại hội Đại biểu Nhân dân Trung Quốc Vương Hán Bân. Các cuộc qua lại hữu nghị thuộc các lĩnh vực khác thì càng nhiều hơn. Biểu hiện thứ hai là: hợp tác kinh tế thương mại giữa hai nước được tăng cường. Từ năm 1992 đến năm 1994, chính phủ hai nước Trung – Việt đã ký kết 10 hiệp định về tăng cường quan hệ hợp tác kinh tế thương mại, những hiệp định này gồm các mặt hợp tác kinh tế, mậu dịch, giao thông vận tải, bảo hộ đầu tư, hợp tác khoa học – kỹ thuật, bảo đảm chất lượng hàng xuất nhập khẩu và du lịch. Mức htu mậu dịch giữa Trung Quốc và Việt Nam, “theo thống kê của Tổng cục Hải quan Trung Quốc, tổng mức xuất khẩu hàng hóa của Trung Quốc với Việt Nam là 179.070.000 USD, trong đó Trung Quốc xuất khẩu 106.360.000 USD, nhập khẩu 72.710.000 USD”. Còn năm 1994, chỉ từ tháng 1 đến tháng 9 “Tổng mức xuất nhập khẩu Trung – Việt đạt 352.490.000 USD”. Có thể thấy sự tăng trưởng nhanh chóng của mức mậu dịch giữa hai nước.

Giữa Trung Quốc và Việt Nam một mặt không ngừng tranh chấp, mặt khác quan hệ qua lại được cải thiện và phát triển. Cái trạng thái tế nhị đó nói lên rằng giữa Trung Quốc và Việt Nam vừa có điểm tương đồng vừa có điểm bất đồng. Về điểm tương đồng, một là tập trung lực lượng phát triển kinh tế bên trong mỗi nước. Về phát triển kinh tế, nhìn từ phạm vi thế giới, từ sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, cục diện hai cực bị thủ tiêu, việc ưu tiên kinh tế dần trở thành trào lưu thế giới, kinh tế ngày càng trở thành nhân tố chủ đạo chi phối quan hệ giữa các nước. Khi nhìn vào tình hình bên trong hai nước Trung – Việt, cả hai đều là nước đang phát triển, đều đứng trước nhiệm vụ phát triển kinh tế, nâng cao mức sống nhân dân, hai nước đều là nước XHCN, đều cần làm tốt xây dựng kinh tế mới có thể củng cố và phát triển chế độ XHCN. Hai là yêu cầu có một môi trường quốc tế hòa bình, ổn định. Khi làm rõ chính sách đối ngoại của mình, Trung Quốc chú trọng nêu lên rằng nó nhằm “xây dựng một CNXH mang màu sắc Trung Quốc, tranh thủ môi trường quốc tế hòa bình”. Khi bàn tới chính sách đối ngoại, Việt Nam cũng nêu rằng “nhiệm vụ đối ngoại xuyên suốt một thời gian từ nay về sau là duy trì hòa bình, mở rộng các quan hệ hợp tác hữu nghị, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc”. Có thể thấy, tranh thủ môi trường quốc tế hòa bình là nhu cầu của việc phát triển kinh tế trong nước của cả hai nước Trung – Việt. Ba là hai nước Trung – Việt còn có hệ tư tưởng tương đồng, nhưng điều này đã tỏ ra mờ nhạt rồi. Điểm bất đồng thì chủ yếu là vấn đề lãnh thổ, trong vấn đề biên giới đất liền, phân vạch biển, vịnh và chủ quyền hải đảo. Đối với những bất đồng này, hai bên Trung – Việt đều biết rằng không có khả năng giải quyết thật nhanh, có vấn đề, như vấn đề trên biển, còn chưa nhìn thấy mầm mống của giải pháp. Như vậy thì hiện nay giữa Trung Quốc và Việt Nam điểm tương đồng lớn hơn điểm bất đồng, do vậy tuy còn không ngừng tranh chấp về những vấn đề cục bộ nhưng cũng không đến mức ảnh hưởng tới việc cải thiện và phát triển quan hệ giữa hai nước.

Vấn đề đảm phán và triển vọng

Về đàm phán giữa hai nước Trung – Việt về vấn đề lãnh thổ, tháng 8 năm 1993 đoàn đại biểu của chính phủ 2 nước Trung – Việt đã tiến hành vòng đàm phán thứ nhất tại Bắc Kinh về vấn đề biên giới lãnh thổ hai nước, đạt được nhất trí về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ giữa hai nước. Ngày 19 tháng 10 cùng năm, tại Hà Nội Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Trung Quốc, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Đường Gia Triền và Trưởng đoàn Đại biểu Chính phủ Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Vũ Khoan đã chính thức ký Hiệp định về những nguyên tắc cơ bản trong vấn đề biên giới lãnh thổ giữa hai nước Trung – Việt. Một năm sau, ngày 22 tháng 7 năm 1994 Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Tiền Kỳ Tham, khi gặp Ngoại trưởng Nguyễn Mạnh Cầm tại Bangkok, hai bên đã bàn tới vấn đề quần đảo Nam Sa. Tiếp đó, ngày 17 tháng 8, tại Hà Nội Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm đã tiếp Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc đang ở thăm Việt Nam. Sau khi nhìn lại việc đàm phán biên giới Trung – Việt, hai bên đã chú trọng trao đổi ý kiến đầy đủ về vấn đề Nam Sa. “Hai bên nhất trí cho rằng, vấn đề biên giới lãnh thổ hai nước, kể cả vấn đề Nam Sa, cần căn cứ trên sự hiểu biết mà các nhà lãnh đạo hai nước đã đạt được và hiệp định về những nguyên tắc cơ bản mà hai bên đã ký kết năm ngoái (1993), thông qua đàm phán để giải quyết một cách hợp lý, thỏa đáng”. Tháng 11 năm 1994 Chủ tịch Nhà nước Trung Quốc Giang Trạch Dân thăm Việt Nam, trong thông cáo chung Trung – Việt công bố ngày 22 tháng 11, bàn tới vấn đề trên biển, hai bên đồng ý thành lập nhóm chuyên gia về vấn đề trên biển, tiến hành đối thạoi và thương lượng. Tóm lại, về tranh chấp Trung – Việt trong vấn đề Nam Sa, cần căn cứ vào sự hiểu biết mà các nhà lãnh đạo hai nước đã đạt được và hiệp định về các nguyên tắc cơ bản mà hai bên ký kết năm 1993 để tìm cách giải quyết. “Hiểu biết” và “Hiệp định” nói trên chung quy là: 1) “Thông qua đàm phán để đạt được một biện pháp giải quyết cơ bản và lâu dài”. 2) “Trước khi vấn đề được giải quyết, hai bên đều không áp dụng các hành động làm cho tranh chấp phức tạp thêm, không sử dụng vũ lực hoặc dùng vũ lực uy hiếp nhau”. 3) “Những vấn đề tranh chấp nhất thời không giải quyết được thì tạm gác lại để cùng tiến hành khai thác, bao gồm nghiên cứu khoa học, thăm dò, nghiên cứu khí tượng hải dương, khai thác ngư nghiệp…”. 4) Đối với những bất đồng nảy sinh, hai bên kịp thời thương lượng, áp dụng thái độ bình tĩnh và xây dựng để xử lý một cách thỏa đáng; không vì bất đồng mà để ảnh hưởng tới sự phát triển bình thường của quan hệ giữa hai nước”.

Trên đây là những nguyên tắc lớn, phương hướng lớn mà hai nước Trung – Việt đạt được qua đàm phán về các vấn đề trên biển. Trước mắt còn chưa thể nói gì tới bước thương đàm có tính thực chất. Nếu nói rằng việc hai bên trù tính thành lập nhóm chuyên gia về vấn đề trên biển là một bước đi thì cho đến hiện nay, đó là hành động cụ thể duy nhất được áp dụng nhằm giải quyết vấn đề Nam Sa.

Triển vọng cuộc tranh chấp Trung – Việt về vấn đề trên biển như thế nào? Có học giả cho rằng vùng biển Nam Hải sẽ bùng nổ xung đột vũ trang, trở thành một “điểm nóng” mới. Tác giả cho rằng khả năng này không lớn, nguyên nhân là: 1) Hai nước Trung – Việt và các nước hữu quan đều đang dốc sức vào xây dựng kinh tế trong nước, đều cần một môi trường xung quanh hòa bình và một tình hình khu vực ổn định. 2) Các nước hữu quan đã bỏ vốn vào thăm dò khai thác dầu khí và một số công trình xây dựng khác tại vùng Nam Hải, họ không muốn để xảy ra xung đột vũ trang làm cho lợi ích đã thu được của họ bị tổn thất. 3) Nếu nổ ra xung đột vũ trang, sẽ có khả năng diễn ra một cuộc chiến tranh tiêu hao lâu dài, chẳng bên nào muốn trả giá nặng nề cho điều này. 4) Nam Hải là con đường hàng hải tất yếu phải qua từ Thái Bình Dương sang Ấn Độ Dương, các nước liên quan, nhất là Mỹ và Nhật Bản, không mong muốn con đường hàng hải quốc tế này bị trở ngại gây bất lợi cho việc họ mưu cầu lợi ích lớn hơn ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Những điều phân tích trên đây cũng là nguyên nhân làm cho các nước hữu quan tỏ ý muốn đàm phán hòa bình giải quyết tranh chấp. Xem ra tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam về vấn đề Tây Sa và Nam Sa sẽ còn tồn tại trong một thời gian tương đối dài, nhưng lượng tính sẽ không xảy ra xung đột vũ trang.

Vấn đề Tây Sa và Nam tới đây sẽ giải quyết như thế nào? Đây cũng là vấn đề mà mọi người quan tâm. Về quần đảo Tây Sa, ngoài Việt Nam đưa ra yêu cầu lãnh thổ, các nước khác trước đây và hiện nay không có ý kiến khác về vấn đề quần đảo Tây Sa thuộc lãnh thổ Trung Quốc, hiện nay ở đó lại có quân đội Trung Quốc đóng giữ và chính phủ đang thực hiện quyền cai quản, xem ra không thành vấn đề gì. Hiện nay người ta chú ý nhiều hơn đến vấn đề quần đảo Nam Sa giải quyết như thế nào, không ngoài 3 phương án: một là công quản quốc tế, hai là chia cắt, ba là gác lại tranh chấp cùng khai thác. Tác giả cho rằng công quản quốc tế không thể được, chia cắt cũng không thể được, có khả năng nhất là “gác tranh chấp, cùng khai thác”. Kiến nghị này đã được một số nước chấp nhận, phương tiện truyền thông báo chí của một số nước cũng bắt đầu bàn về việc này, chẳng hạn tờ Mainichi Shimbun của Nhật Bản ngày 2 tháng 5 năm 1995 đã đăng xã luận nhan đề Tập trung trí tuệ, liên hợp khai thác. Về giải pháp tương lai cho vấn đề Nam Sa, bài xã luận cho rằng, “Kiến nghị do Trung Quốc đưa ra nói chung là giải pháp hiện thực nhất”, đó là “tạm gác tranh chấp, liên hợp khai thác các nguồn tài nguyên”. Nhưng khai thác như thế nào, khai thác cái gì, mỗi bên sẽ có nhận thức riêng của mình, có cách tính toán riêng của mình. Đây là một việc rất phức tạp, lượng tính phải tới sau đầu thế kỷ 21 mới dần được các nước hữu quan tiếp thu, mới dần có được một nhận thức đại thể nhất trí, và đi tới cụ thể hóa. Đây là tương lai và lý tưởng tốt đẹp thông qua con đường hòa bình giải quyết vấn đề này mà nhân dân Trung Quốc và nhân dân các nước Đông Nam Á hy vọng nhìn thấy.

Người dịch: Nguyễn Như

Nguồn: TĐB 96 – 10 & 11

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s