Một số phát triển lý luận mới của Trung Quốc sau chiến tranh lạnh

Sau chiến tranh lạnh với những biến động lớn trong tình hình quốc tế (sự sụp đổ của Liên Xô và phe XHCN ở Đông Âu) và tình hình nội bộ của Trung Quốc (sự kiện Thiên An Môn), Trung Quốc đã có những điều chỉnh thận trọng trong CSĐN của mình. Mặc dù vẫn kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Mao Trạch Đông làm nền tảng cơ sở lý luận cho việc hoạch định CSĐN của mình, Trung Quốc cũng tiếp thu và chấp nhận ảnh hưởng của một số lý luận mới trên thế giới. Nửa đầu thập kỷ 90 là thời gian Trung Quốc im lặng tìm hiểu và đánh giá tình hình. Học thuyết “giấu mình chờ thời, quyết không đi đầu” (taoguang yanghui, buyao dangtou) của Đặng Tiểu Bình được đưa ra trong thời gian này bao gồm 3 điểm chính: i) lengjing guancha (xem xét tình hình kỹ lưỡng), ii) wenzhu zhenjiao (củng cố vị thế của Trung Quốc) và iii) chenzhuo yingfu (bình tĩnh đối phó với các thách thức) thể hiện sự thận trọng của Trung Quốc trong giai đoạn giao thời này.[14] Tuy nhiên, từ nửa cuối những năm 90 khi Trung Quốc đã nắm bắt đặc điểm, xu thế và hoà nhập vào thế giới mới, nhiều lý luận mới đã được phát triển để làm cơ sở cho việc triển khai CSĐN của nước này. Tiêu biểu là học thuyết “hoà bình và phát triển” của Đặng Tiểu Bình cho rằng mặc dù xung đột và chiến tranh cục bộ vẫn còn, đặc điểm chính của thế giới sau chiến tranh lạnh vẫn là mặt hợp tác – hoà bình và phát triển. Đây được xem là nền tảng mới cho việc phát triển các khái niệm lý thuyết của Trung Quốc về cấu trúc thế giới mới bao gồm “khái niệm an ninh mới” (1996), “trỗi dậy hoà bình”(2003) và “xã hội hài hoà” (2005).

Khái niệm an ninh mới

Tại cuộc họp các Bộ trưởng ARF tháng 7/1996, Trung Quốc đã lần đầu tiên kêu gọi các nước từ bỏ ‘tư duy Chiến tranh lạnh’ và đưa ra “Khái niệm An ninh mới” sau này sẽ trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc. Nguyên Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Tiền Kỳ Tham kêu gọi, “các nước trong khu vực nên cùng nhau xây dựng một khái niệm an ninh mới, tập trung vào tăng cường lòng tin thông qua đối thoại và thúc đẩy an ninh thông qua hợp tác”.[15] “Khái niệm An ninh mới” do Trung Quốc đề xướng là sự phát triển của năm nguyên tắc chung sống hoà bình, lấy việc xây dựng ‘tin cậy lẫn nhau, cùng có lợi, bình đẳng, hợp tác’ làm hạt nhân, chủ trương thông qua đối thoại tăng thêm tín nhiệm lẫn nhau, thông qua hợp tác xúc tiến an ninh chung.[16] Khái niệm mới này thể hiện những nhận định của Trung Quốc về môi trường an ninh phức tạp sau Chiến tranh lạnh, và chủ trương sách lược của Trung Quốc để bảo đảm an ninh cho Trung Quốc trong bối cảnh mới. Nhận thức được mối lo ngại của Mỹ và các nước láng giềng khu vực đối với sự phát triển mạnh mẽ của Trung Quốc, Trung Quốc đề xướng ‘tin cậy lẫn nhau’ “lấy thành thực làm gốc, lấy tin cậy làm đầu, vứt bỏ tư duy chiến tranh lạnh và chính trị cường quyền, vượt qua sự dị đồng về hình thái ý thức và chế độ xã hội, không nghi ngờ lẫn nhau, không coi nhau là kẻ thù, thường xuyên tiến hành đối thoại về chính sách phòng ngự an ninh của mỗi nước và thông báo cho nhau về những động thái quan trọng của mình, tích cực xây dựng cơ chế hợp tác an ninh và đối thoại khu vực, gia tăng tin cậy lẫn nhau”.[17] Chủ trương này phù hợp với phương châm “náu mình chờ thời, không đi đầu” của Đặng Tiểu Bình, ít đề cập tới khác biệt về chế độ chính trị-xã hội, về ý thức hệ, tránh va chạm tới mức tối đa, nhằm giảm thiểu những phiền phức đối với an ninh Trung Quốc, tạo điều kiện thuận lợi cho tiến trình cải cách mở cửa và hiện đại hoá của Trung Quốc trong khi thế và lực của Trung Quốc còn có những hạn chế. Đồng thời, Trung Quốc nhấn mạnh tới lợi ích chung và điểm đồng giữa Trung Quốc với các nước, hướng tới khía cạnh “cùng có lợi” khi các nước ưu tiên mục tiêu phát triển, “các nước nên thuận theo xu thế khách quan phát triển toàn cầu hoá, đồng thời với việc bảo vệ lợi ích của mình, tôn trọng lợi ích của mình và của đối phương, xây dựng an ninh toàn cầu trên cơ sở lợi ích chung, thực hiện an ninh chung”. Trung Quốc còn nhấn mạnh tới nguyên tắc “bình đẳng”, theo đó “bất kỳ nước lớn, nhỏ, mạnh, yếu nào đều là một thành viên bình đẳng trong cộng đồng quốc tế nên cùng tôn trọng, đối xử bình đẳng, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau”.[18] Điều này xuất phát từ những lo ngại của Trung Quốc đối với chiến lược kiềm chế và diễn biến hoà bình của Mỹ, vì chỉ có Mỹ là siêu cường duy nhất có khả năng đe doạ an ninh của Trung Quốc, và đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong tiến trình hiện đại hoá và vươn lên vị thế cường quốc thế giới của Trung Quốc. Cam kết cùng thúc đẩy dân chủ hoá quan hệ quốc tế cho thấy Trung Quốc muốn vô hiệu hoá con bài “dân chủ, nhân quyền” mà Mỹ và phương Tây sử dụng sau Chiến tranh lạnh và sau sự kiện Thiên An Môn, và tỏ rõ Trung Quốc sẽ tuân thủ những luật chơi trong cục diện hiện thời. Một điểm mới trong khái niệm về an ninh mới của Trung Quốc đó là khía cạnh hợp tác, Trung Quốc chủ trương “các nước nên tiến hành hợp tác sâu rộng trong các vấn đề an ninh cùng quan tâm, nhằm đối phó một cách hiệu quả những thách thức của an ninh toàn cầu, xoá bỏ nguy cơ tiềm tàng, dùng phương thức hoà bình giải quyết xung đột, ngăn chặn xảy ra chiến tranh, xung đột, thực hiện an ninh toàn diện và bền vững”.[19] Chủ trương này thể hiện ngoại giao Trung Quốc đã biết khuếch trương tầm quan trọng của Trung Quốc trong các vấn đề quan trọng của khu vực, nhấn mạnh tới vai trò của nhân tố Trung Quốc trong việc tìm giải pháp cho các vấn đề trên, ngầm nhắc cho Mỹ và các nước trong khu vực về ảnh hưởng của sức mạnh mềm Trung Quốc.

Trỗi dậy hoà bình

Khái niệm trỗi dậy hoà bình là phản ứng chiến lược của Trung Quốc để đáp lại cái gọi là “thuyết mối đe doạ Trung Quốc”, được xem là lập luận nhằm biện minh cho việc kiềm chế và can thiệp vào công việc nội bộ của Trung Quốc (Đài Loan, Tây Tạng, Tân Cương) của các nước phương Tây. Khái niệm này lần đầu tiên được học giả Zheng Bijian trình bày tại diễn đàn Bác Ngao tháng 11/2003 khi ông diễn thuyết về sự trỗi dậy của Trung Quốc và tác động của nó đối với sự phát triển của châu Á. Theo Zheng, sự trỗi dậy hoà bình của Trung Quốc không nhằm mục đích tranh giành bá quyền hay bành trướng quân sự mà chỉ nhằm tìm ra những chiến lược để đối phó với các thách thực đặt ra từ quá trình hiện đại hoá của Trung Quốc. Nói cách khác, việc Trung Quốc trỗi dậy không phải là mối đe dọa mà là một cơ hội cho hoà bình thế giới. Ngay lập tức, khái niệm này được đưa vào chính sách đối ngoại của Trung Quốc và được các nhà lãnh đạo cao nhất của nước này sử dụng trên các diễn đàn quốc tế để mô tả chính sách đối ngoại của Trung Quốc và sự can dự của nước này vào các vấn đề quốc tế cũng như khẳng định tầm quan trọng của hợp tác và an ninh khu vực trong việc thực hiện các kế hoạch hiện đại hoá trong nước của Trung Quốc.

Về cơ bản, khái niệm trỗi dậy hoà bình chỉ (i) sự phát triển của bản thân, dựa vào thực lực, sức mạnh của bản thân trên cơ sở lợi dụng thời cơ, bối cảnh quốc tế; (ii) là một quá trình phát triển lâu dài, lấy phát triển kinh tế làm cơ bản; (iii) là một quá trình phát triển hoà bình, không xảy ra chiến tranh mang tính hệ thống, khác hẳn với sự trỗi dậy của các cường quốc trước kia thường đi liền với sự thách thức và phá vỡ trật tự, cục diện hiện thời.

Nội dung của chiến lược này (i) phản ánh sự lựa chọn chiến lược của Trung Quốc trên cơ sở đánh giá tổng thể về tình hình và xu thế phát triển của quốc tế, (ii) bao quát toàn bộ quan điểm, nhận thức của Trung Quốc đối với thế giới, cụ thể là một loạt quan niệm chiến lược mới từ quan niệm phát triển mới toàn diện, nhịp nhàng, liên tục, lấy con người làm gốc tới quan niệm mở cửa mới kết hợp với toàn cầu hoá kinh tế, quan niệm an ninh mới lấy tin tưởng lẫn nhau, cùng có lợi và bình đẳng làm hạt nhân, quan niệm mới về lợi ích quốc gia; (iii) thể hiện các mục tiêu giải pháp của Trung Quốc để xây dựng một nước Trung Hoa hùng mạnh trên mọi phương diện; (iv) hoàn chỉnh chiến lược phát triển hiện đại hoá, kiên trì chính sách mở cửa đối ngoại và chiến lược quốc tế giữ gìn hoà bình, nhấn mạnh đến nhu cầu phát triển thực lực quốc phòng để bảo vệ hoặc kiến tạo hoà bình.[20]

Mục tiêu của chiến lược này là (i) nhằm đối trọng lại với thuyết về mối đe doạ Trung Quốc; (ii) thể hiện sự lựa chọn tư duy, chiến lược phát triển mới của thế hệ lãnh đạo thứ tư do Hồ Cẩm Đào lãnh đạo; (iii) tìm ngọn cờ để tập hợp lực lượng, tạo dựng hình ảnh nước lớn trong khu vực và thế giới. Hiện nay, khái niệm “trỗi dậy hoà bình” được triển khai thành 3 hướng chính: Trung Quốc sẽ thực thi CSĐN hoà bình, thúc đẩy sự hài hoà trong phát triển trong nước và tìm kiếm sự hoà giải trong vấn đề Đài Loan (duiwai moujiu heping, duinei moujiu hexie, Taiwan moujiu hejie)[21]

(còn tiếp)

Nguồn: Nghiên cứu quốc tế, số 83 (12-2010).

Đỗ Thị Thủy là Thạc sỹ, Giảng viên Khoa CTQT và Ngoại giao, Học viện Ngoại giao

—–

[14] Xem Jia Qingguo, “Learning to live with the hegemon: evolution of China’s policy toward the US since the end of the Cold War,” Journal of Contemporary China (August, 2005), 14 (44), 395-407.

[15] China’s Position Paper on the New Security Concept (06/08/2002) tại địa chỉ http://www.china-un.ch/eng/cjjk/cjjblc/cjlc/t85397.htm

[16] Giang Tây Nguyên và Hạ Lập Bình, Trỗi dậy Hoà bình,  (NXB Khoa học Xã hội Trung Quốc, 2004), Bản dịch của Dương Danh Dy, Hà nội,  tháng 7-2005, trang 35.

[17] Nt.

[18] Nt

[19] Xem thêm Hiền Lương và Đỗ Thủy, “Những điều chỉnh trong chiến lược an ninh Đông Á của Trung Quốc sau chiến tranh lạnh” Nghiên cứu quốc tế, (3/2006).

[20] Nt

[21] Wang Hongying, “Multilateralism in Chinese Foreign Policy: the Limits of Socialization” Asian Survey (2000) Vol. 40, No. 3 (May/June)

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s