VI/ Ý nghĩa của các từ hoàn toàn được xác định bởi bối cảnh của nó. Trong thực tế, một từ được sử dụng trong bao nhiêu ngữ cảnh thì có bây nhiêu nghĩa. Nhưng dù vậy, một từ vẫn luôn luôn là một từ, vì thế, nó không bị phân rã, có thể nói vậy, thành các từ khác nhau khi được dùng trong những ngữ cảnh khác nhau. Tính thống nhất của từ như vậy được đảm bảo, tất nhiên, không phải bởi sự thống nhất thành phần ngữ âm của nó, mà bởi sự thống nhất của các nghĩa của nó. Làm thế nào để hòa giải được về mặt nguyên tắc tính đa nghĩa của từ với sự thống nhất của nó? – vấn đề chính về ngữ nghĩa có thể diễn đạt một cách thô sơ và căn bản như vậy. Vấn đề này chỉ có thể được giải quyết một cách biện chứng. Vậy chủ nghĩa khách quan trừu tượng đã ứng xử ra sao? Đối với chủ nghĩa khách quan trừu tượng, yếu tố thống nhất của từ đông cứng lại và tách khỏi tính đa nghĩa nguyên tắc của nó. Tính đa nghĩa này được coi là những bội âm ngẫu nhiên của một ý nghĩa đông cứng và bền vững duy nhất. Hướng của mối quan tâm ngôn ngữ học là hoàn toàn ngược lại hướng của sự hiểu của người nói tham gia vào dòng phát ngôn trong cuộc sống. Nhà ngôn ngữ – ngữ văn, khi so sánh các bối cảnh sử dụng khác nhau của một từ, chỉ chú trọng vào yếu tố đồng nhất của việc sử dụng, bởi vì điều quan trọng đối với ông ta là tách nó ra khỏi các ngữ cảnh đang được so sánh và định nghĩa nó bên ngoài ngữ cảnh, tức là, tạo ra một từ từ điển. Quá trình cô lập từ và ổn định nghĩa của nó bên ngoài ngữ cảnh như vậy còn được gia cố thêm bằng cách so sánh các ngôn ngữ, tức là, tìm kiếm các từ tương ứng trong ngôn ngữ khác. Có thể nói rằng trong quá trình thao tác ngôn ngữ học, ý nghĩa được tạo nên trên ranh giới của ít nhất là hai ngôn ngữ. Công việc của nhà ngôn ngữ học còn phức tạp thêm, bởi ông ta phải tạo ra hư cấu về một đối tượng thực và duy nhất tương ứng với từ đã cho. Đối tượng duy nhất và tự đồng nhất này chính là cái đảm bảo sự thống nhất của ý nghĩa. Điều hư cấu về các thực tại, theo nghĩa đen, của từ thúc đẩy thêm nữa sự vật hóa ý nghĩa của nó. Trên cơ sở đó, sự thống nhất biện chứng giữa tính đơn nghĩa với tính đa dạng của nó là không thể.

Một sai lầm sâu sắc khác của chủ nghĩa khách quan trừu tượng là điểm sau đây: họ quan niệm các bối cảnh sử dụng khác nhau của một từ như thể chúng nằm trên cùng một mặt phẳng. Các bối cảnh dường như tạo nên một loạt các phát ngôn khép kín tự tại theo cùng một hướng. Trên thực tế, hoàn toàn không phải như vậy: các bối cảnh sử dụng cùng một từ thường xuyên mâu thuẫn với nhau. Ví dụ cổ điển về sự mâu thuẫn bối cảnh sử dụng cùng một từ như vậy là lời đối đáp trong đối thoại. Ở đó, cùng một từ xuất hiện trong hai bối cảnh xung đột lẫn nhau. Tất nhiên, những lời đối đáp trong đối thoại chỉ là trường hợp rõ ràng và hiển nhiên nhất của các bối cảnh khác hướng. Trong thực tế, bất kỳ phát ngôn thực tiễn nào đều đồng ý hay phủ bác một cái gì đó, ở mức độ này hay mức độ khác, dưới hình thức này hay hình thức khác. Bối cảnh không đứng cạnh nhau như thể không hề biết sự tồn tại của nhau, mà luôn luôn trong tình trạng tương tác và đấu tranh căng thẳng. Sự thay đổi trọng âm đánh giá của phát ngôn trong các bối cảnh khác nhau hàon toàn bị ngôn ngữ học bỏ qua và không hề thấy bóng dáng trong học thuyết về tính duy nhất của ý nghĩa. Trọng âm đánh giá là cái ít chịu vật hóa nhất, trong khi đó chính tính chất đa trọng âm của từ khiến nó sống động. Vấn đề đa trọng âm nhất thiết phải gắn liền với vấn đề đa nghĩa. Chỉ khi được kết nối như vậy, cả hai vấn đề mới có thể được giải quyết. Thế nhưng mối quan hệ này lại hoàn toàn không thể thực hiện được trên cơ sở của chủ nghĩa khách quan trừu tượng với các nguyên lý của nó. Trọng âm đánh giá đã bị ngôn ngữ học ném ra ngoài mạn tàu cùng với phát ngôn riêng lẻ (parole).

VII/ Theo học thuyết của chủ nghĩa khách quan trừu tượng, ngôn ngữ giống như là một sản phẩm đã hoàn tất, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Tất nhiên, sự lưu truyền di sản ngôn ngữ, như một thứ đồ vật, được các đại biểu của xu hướng thứ hai hiểu như là ẩn dụ. Khi vật chất hóa hệ thống ngôn ngữ và tiếp nhận sinh ngữ như là một thứ ngoại ngữ đã chết, chủ nghĩa khách quan trừu tượng đã biến nó thành một cái gì nó nằm ngoài dòng chảy giao tiếp lời nói. Dòng chảy này di chuyển về phía trước, còn ngôn ngữ, như quả bóng, được chuyển từ thế hệ này sang thế hệ khác. Trong khi đó, thật ra ngôn ngữ chuyển động cùng với dòng chảy và không thể tách rời nó. Trên thực tế, ngôn ngữ không được chuyển giao, mà nó kéo dài, kéo dài với tư cách là một quá trình hình thành liên tục. Các cá nhân nói chung tham gia vào dòng giao tiếp lời nói, và ý thức của họ nảy sinh chính trong dòng chảy đó. Chỉ trong quá trình học tập ngoại ngữ, cái ý thức đã hoàn tất – hoàn tất nhờ tiếng mẹ đẻ – mới đối diện với một ngôn ngữ đã hoàn tất, mà nó chỉ việc tiếp nhận. Người ta không tiếp nhận tiếng mẹ đẻ – người ta được thức tỉnh lần đầu tiên trong đó.

VIII/ Chủ nghĩa khách quan trừu tượng, như chúng ta đã thấy, không có khả năng gắn kết sự tồn tại của ngôn ngữ trong khuôn khổ đồng đại trừu tượng với quá trình phát triển của nó. Như là một hệ thống những hình thức tự đồng nhất quy chuẩn, ngôn ngữ tồn tại cho ý thức người nói; Còn như là một quá trình phát triển – nó chỉ tồn tại cho các sử gia. Điều này loại bỏ mọi cơ hội để ý thức của bản thân người nói chủ động tiếp cận đến quá trình phát triển lịch sử. Sự kết hợp biện chứng của tất yếu với tự do và, có thể nói vậy, với trách nhiệm của ngôn ngữ – trên cơ sở này, tất nhiên, là hoàn toàn không thể. Ở đây, ngự trị một cách hiểu thuần túy máy móc về tất yếu ngôn ngữ. Tất nhiên, không nghi ngờ gì nữa, cả đặc điểm này của chủ nghĩa khách quan trừu tượng cũng liên quan đến sự chú trọng vô thức của nó đối với ngoại ngữ đã chết.

Tiểu kết

Việc còn lại của chúng ta là tóm tắt các phân tích phê phán của mình đối với chủ nghĩa khách quan trừu tượng. Vấn đề chúng ta đặt ra – vấn đề về dữ liệu thực tế của các hiện tượng ngôn ngữ, như là đối tượng nghiên cứu chuyên biệt và duy nhất, đã bị chủ nghĩa khách quan trừu tượng giải quyết sai lầm. Ngôn ngữ, như là hệ thống hình thức tự đồng nhất quy chuẩn, là một sự trừu tượng hóa, chỉ có thể hợp lý hóa về mặt lý thuyết và thực tế nếu nhìn từ quan điểm của việc giải mã và giảng dạy các ngoại ngữ đã chết. Hệ thống này không thể là cơ sở cho sự hiểu và giải thích các sự kiện ngôn ngữ trong đời sống và sự hình thành của chúng. Ngược lại, nó dẫn chúng ta lạc ra khỏi thực tiễn hình thành sống động của ngôn ngữ và các chức năng xã hội của nó, mặc dù những người ủng hộ chủ nghĩa khách quan trừu tượng cũng tuyên bố về ý nghĩa xã hội của quan điểm của họ. Nền tảng lý thuyết của chủ nghĩa khách quan trừu tượng là những tiền đề của thế giới quan duy lý máy móc, rất ít khả năng làm cơ sở cho một sự hiểu biết đúng đắn về lịch sử, mà ngôn ngữ đích thực là một hiện tượng lịch sử.

Liệu từ đó có thể suy ra rằng các nguyên lý của xu hướng thứ nhất – chủ nghĩa cá nhân chủ quan – là đúng đắn hay không? Phải chăng nó đã thành công trong việc nắm bắt hiện thực đích thực của ngôn ngữ – lời nói? Hay, có thể, chân lý nằm ở giữa, như là một sự thỏa hiệp giữa xu hướng thứ nhất và xu hướng thứ hai, giữa các luận đề và phản đề của chủ nghĩa chủ quan cá nhân và chủ nghĩa khách quan trừu tượng?

Chúng tôi tin rằng, ở đây, cũng như ở bất kỳ nơi nào khác, sự thật không nằm ở trung điểm vàng và không phải là một sự thỏa hiệp giữa các luận đề và phản đề, mà nằm bên ngoài và cách xa chúng, là cái phủ định cả luận đề lẫn phản đề, tức là, là một sự tổng hợp biện chứng. Các luận đề của xu hướng thứ nhất, như chúng ta sẽ thấy ở bài tiếp theo, cũng không thể biện hộ được.

Ở đây chúng tôi xin lưu ý hơn đến điều sau. Chủ nghĩa khách quan trừu tượng, khi xem hệ thống ngôn ngữ là cái duy nhất quan trọng của các hiện tượng ngôn ngữ, đã phủ nhận tính cá nhân của hành động nói – phát ngôn. Proton pseudo của chủ nghĩa khách quan trừu tượng, như chúng ta đã nói, nằm ở điểm này.

Chủ nghĩa cá nhân chủ quan lại cho rằng cái duy nhất quan trọng chính là hành động nói – phát ngôn. Tuy nhiên, nó cũng định nghĩa hành động này như một hiện tượng cá nhân và do đó cố gắng giải thích nó bằng các điều kiện của cuộc sống tâm lý cá nhân người nói. Proton pseudos của nó nằm ở chính điểm này.

Trên thực tế, hành động nói, hay chính xác hơn, sản phẩm của nó – phát ngôn, hoàn toàn không thể coi là một hiện tượng cá nhân theo nghĩa hẹp của từ này và không thể giải thích bằng các điều kiện tâm – sinh lý hoặc tâm lý – cá nhân của cá nhân người nói. Phát ngôn là một hiện tượng xã hội.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.N. Voloshinov – Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ – NXB ĐHQG HN 2015.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s