Nước Nga và khu vực châu Á – Thái Bình Dương trong thế kỷ 21

Nguồn gốc “Hướng Đông”

Hướng Đông là sự cần thiết chín muồi từ lâu trong chính sách đối nội và đối ngoại của Nga. Những biện pháp riêng lẻ nhằm đẩy mạnh hướng đi này đã xuất hiện ngày từ những năm 1990. Khi đó đã có những nỗ lực đầu tiên không chỉ thiết lập quan hệ song phương với các quốc gia ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, mà còn củng cố trong các cấu trúc đa phương như Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Tuy nhiên, những biện pháp như thế không mang tính hệ thống và tình hình kinh tế Liên bang Nga vào thời điểm đó không cho phép xây dựng chiến lược phối hợp hành động trong không gian châu Á – Thái Bình Dương. Nước Nga lúc đó có mối quan hệ chặt chẽ với phương Tây và tuyên bố kiên định với định hướng châu Âu, và lãnh đạo cũng ít quan tâm đến châu Á. Trong những năm gần đây, sự suy giảm trong quan hệ với phương Tây, những nỗ lực vô nghĩa thúc ép Nga hội nhập châu Âu ngày càng trở nên vô vọng đóng vai trò quan trọng trong việc đẩy mạnh hướng Đông.

Các nước châu Á nhìn thấy hợp tác với Nga phần lớn chỉ là buôn bán tài nguyên. Trên phương diện chính trị quốc tế, khu vực này ổn định và phần lớn các nước đều phát triển năng động. Cùng với thời gian những ý niệm này đã thay đổi, ngay cả các nước châu Á – Thái Bình dương cũng bắt đầu mong đợi Nga đóng vai trò lớn hơn, đặc biệt là trong các vấn đề an ninh. Các cuộc đàm phán 6 bên về chương trình hạt nhân của Triều Tiên, tham gia Hội nghị thượng đỉnh Đông Á và đẩy mạnh hoạt động trong khuôn khổ APEC. Tuy nhiên, mãi đến cuối thập niên trước chính sách của Nga tại châu Á vẫn mang tính chất rời rạc, chắp vá và chưa có chiến lược thống nhất. Một chiến lược như thế đã xuất hiện vào những năm 2010, thậm chí còn ở cấp độ học thuật và đầy tham vọng, về nguyên tắc chính sách của Nga ở châu Á hiện nay khác với thời kỳ trước. Chính sách này chưa hoàn thiện (sẽ được đề cập đến sau), nhưng nó tồn tại với tư cách thống nhất, một nhóm những người có cùng chính kiến đã xuất hiện trong giới tinh hoa Nga, tích cực thúc đẩy “hướng Đông”. Đòi hỏi đối với nước Nga từ các quốc gia châu Á cũng đóng vai trò quan trọng. Đòi hỏi này được hình thành trong vòng 5 – 7 năm trở lại đây trong bối cảnh tình hình quốc tế tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương trở nên xấu đi. Sự đối đầu giữa Trung Quốc và Mỹ, mong muốn của các quốc gia nhỏ và trung bình ở châu Á khắc phục tính một chiều định hướng hoặc là Trung Quốc, hoặc là Mỹ, nỗ lực của những quốc gia này cân bằng sự hùng mạnh đang lên của Trung Quốc là những nhân tố đóng vai trò rất quan trọng. Nước Nga trong mối quan hệ này rất độc đáo: Nga hữu nghị với Trung Quốc, hợp tác với Moskva không được coi là mối đe dọa cho các lợi ích Trung Quốc. Trong số những nhu cầu kinh tế có thể kể đến tiềm năng trung chuyển của Nga, khả năng Nga tham gia cuộc chiến đối phó với những thách thức khu vực và toàn cùng: cung cấp các nguồn năng lượng và đóng góp vào an ninh lương thực ở châu Á, tiềm năng đầu tư (biên giới cuối cùng Á – Âu) – Siberi và Viễn Đông.

Điều thuận lợi cho Nga là mở rộng sự hiện diện kinh tế và duy trì cái gọi là sự nghịch lý châu Á. Đẩy mạnh trao đổi kinh tế, tăng turởng kinh tế (trong năm 2000 – 2013 tốc độ tăng trưởng Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của các nước ASEAN + 3 và Ấn Độ, nòng cốt APEC, đạt mức 6,7%; các nước Liên minh châu Âu (EU) và Mỹ lần lượt là 0,9% và 1,9%) và ký kết các hiệp định bổ sung về hợp tác trong lĩnh vực kinh tế không dẫn đến việc cải thiện tình hình trong lĩnh vực an ninh. Sự mất lòng tin lẫn nhau là rất lớn, cuộc chạy đua vũ trang vẫn tiếp diễn. Chi tiêu quốc phòng trong năm 2014 của bốn cường quốc hàng đầu châu Á là Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và Hàn Quốc chiếm gần 20% tổng chi tiêu quốc phòng trên toàn thế giới. Trung Quốc chiếm hơn một nửa trong số đó, chi tiêu quân sự của nước này lên tới 216 tỷ USD. Chi phí quân sự gia tăng là do leo thang căng thẳng về vấn đề tranh chấp lãnh thổ, chương trình hạt nhân của Triều Tiên gia tăng những mối đe dọa an ninh phi truyền thống. Sự mất cân bằng trong cấu trúc an ninh khu vực ở châu Á – Thái Bình Dương ngày càng đi ngược lại quá trình khu vực hóa trong lĩnh vực kinh tế và mâu thuẫn với sự gia tăng các mối quan hệ kinh tế giữa các nước với nhau. Những liên minh quân sự đang tồn tại ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương gây ra tình trạng đối đầu và kiềm chế không loại trừ khả năng bao hàm cả những trung tâm sức mạnh mới. Trong khi đó, những trung tâm sức mạnh mới trước hết là Trung Quốc ngày càng tích cực đòi hỏi cải tổ hệ thống an ninh và quản trị kinh tế quốc tế. Vấn đề đặt ra là xây dựng tại khu vực một tổ chức an ninh quốc tế toàn diện đối với châu Á và châu Á – Thái Bình Dương, hình thành hệ thống mở đối với châu Âu về an ninh và hợp tác uyển chuyển tại khu vực Á – Âu cho phép giảm thiểu lo ngại của các nước láng giềng đối với Trung Quốc, dập tắt sự kháng cự của những quốc gia này đối với sự bành trướng ôn hòa về kinh tế của Trung Quốc.

Tiềm năng làm sâu sắc tiến trình hội nhập trước hết là trong khuôn khổ ASEAN, và tăng cường hợp tác giữa các quốc gia thành viên trong lĩnh vực chính trị mà phần lớn đã bị cạn kiệt. Tại châu Á không có bất cứ thể chế an ninh quốc tế toàn diện, tương tự như Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu (OSCE) thống nhất phần lớn các quốc gia châu Âu. Hơn nữa, công việc của những thể chế như thế ngay chính tại châu Á có thể hiệu quả hơn nữa ở châu Âu. Điều này liên quan chặt chẽ tới việc tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương không có bất cứ khối quân sự – kinh tế nào như Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) và Liên minh châu Âu (EU). Có thể, cần quay trở lại sáng kiến “Tiến trình Helsinki” đối với châu Á hoặc Á – Âu, đã được thảo luận ở cấp chuyên gia, ví dụ, Diễn đàn về Hợp tác, Phát triển và An ninh tại Á – Âu. Một khuôn khổ như thế có thể giúp giải quyết trong những khuôn khổ sâu rộng hơn – vấn đề an ninh châu Âu bị thất bại.

Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) ra đời năm 2015, bao gồm Mỹ và một loạt các nền kinh tế lớn trong khu vực cũng đóng vai trò nhất định trong phát triển kinh tế – chính trị khu vực. Sáng kiến này thực chất nhằm xây dựng những luật chơi mới trong lĩnh vực thương mại và đầu tư quốc tế, dần dần sẽ “hất cẳng” Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Sáng kiến này là thách thức ở mức thấp nhất đối với Nga và lớn nhất với các cường quốc khu vực như Trung Quốc, Ấn Độ và Hàn Quốc. Những nước riêng lẻ trong ASEAN (Việt Nam, Singapore, Malaysia, Indonesia) đã lựa chọn theo hướng gia nập TPP, trong khi đó các nước khác (Lào, Campuchia) vẫn đứng ngoài. Trung Quốc đang đứng trước lựa chọn khó khăn. Bắc Kinh hoặc là phải tham gia TPP trên cơ sở các nguyên tắc đã được xây dựng mà không có sự tham gia của Trung Quốc (cho dù có chỉnh sửa đi nữa, nhưng nó vẫn không thể thay đổi được những điều kiện mang tính nguyên tắc, ví dụ, “cấm đòi hỏi hạn chế công nghệ”, hoặc xây dựng các thể chế điều hành kinh tế thay thế. Tính biệt lập này, cũng như làm gia tăng căng thẳng, phần lớn bị thổi phồng quá mức, các nước tầm trung trong khu vực nâng cao sự quan tâm một cách khách quan trong việc lôi kéo Nga, gán cho nước Nga vai trò “cân bằng tích cực”.

Trong vòng 2 – 3 năm trở lại đây, sự hiện diện của châu Á trong chương trình nghị sự của Nga đã tăng lên đáng kể. Các chuyến thăm châu Á của đại diện lãnh đạo Nga và các lãnh đạo châu Á diễn ra nhiều hơn rõ ràng. Trong khi đó, việc phối hợp hành động chính trị một cách hệ thống với các đối tác phương Đông ngày càng phát triển không đều. Nếu phân tích thống kê về những sáng kiến của Nga đưa ra trong APEC có thể thấy rõ ràng rằng mấy năm trước khi diễn ra Hội nghị thượng đỉnh APEC tại Vladivostok, các sáng kiến tăng trưởng bền vững nhưng sau khi tổ chức xong Hội nghị thì số lượng các sáng kiến giảm mạnh. Những cuộc gặp gỡ giữa lãnh đạo nước Nga với các doanh nhân nổi bật ở châu Á, những nhà đầu tư tiềm năng, bất ngờ bị hủy bỏ. Việc bỏ qua các hội nghị thượng đỉnh được các quốc gia châu Á xem là do đặc tính văn hóa chính trị cũng như tín hiệu cho thấy Nga không coi những diễn đàn này như là phương hướng ưu tiên đầu tư hợp tác. Việc bỏ qua các hội nghị thuợgn đỉnh được các quốc gia châu Á xem là do đặc tính văn hóa chính trị cũng như tín hiệu cho thấy Nga không coi những diễn đàn này như là phương hướng ưu tiên đầu tư hợp tác. Việc tham dự các Hội nghị thượng đỉnh APEC, Hội nghị cấp cao Đông Á, Hội nghị cấp cao với ASEAN, cũng mang tính không thường xuyên. Ví dụ, tại Hội nghị thượng đỉnh APEC năm 2015 không có sự tham dự của Tổng thống Nga Vladimir Putin, thay vào đó là Thủ tướng Chính phủ. Ngay đã tham gia hợp tác kinh tế Đông Á từ vai năm trước nhưng mức độ tham dự các Hội nghị thượng đỉnh Đông Á (EAS) chỉ được nâng lên cấp người đứng đầu chính phủ vào năm 2014. Một phần, điều này liên quan đến việc “hướng Đông” không mang trong mình những mối đe dọa có thể so sánh được với “hướng Tây”. Hơn nữa nhìn chung không có mối đe dọa. Và vì thế “hướng Đông” chiếm ít sự chú ý hơn ở cấp cao. Tuy nhiên, nếu ở phía Tây Nga chống trả các mối đe dọa thì ở phía Đông phải tận dụng mọi cơ hội. Để làm được điều này đòi hỏi không ít nỗ lực. Cần phải làm cho sự tham dự của đại diện cấp cao Nga tại các cuộc gặp của những diễn đàn quốc tế tại châu Á trở thành hệ thống.

(còn tiếp) 

Nguồn: http://ru.valdaiclub.com

CĐQT – số 12/2016

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s