Những năm gần đây, quan hệ Việt – Nhật tăng tốc phát triển, quan hệ đối tác chiến lược được nâng cấp, hai nước còn mở rộng hợp tác trong lĩnh vực an ninh và ngoại giao, đưa sự hội nhập kinh tế đi vào chiều sâu, thắt chặt mối quan hệ xã hội và nhân văn, quan hệ song phương nổi lên xu thế phát triển toàn diện, ở tầng nấc sâu và mang tính chiến lược. Trong bối cảnh tình hình khu vực châu Á – Thái Bình Dương (TBD) có nhiều diễn biến, thay đổi, Việt Nam và Nhật Bản đã điều chỉnh chính sách đối nội và đối ngoại, sự lệ thuộc lẫn nhau gia tăng đáng kể, điều này trở thành động lực quan trọng khiến quan hệ giữa hai nước phát triển nhanh. Trong những năm tới, quan hệ Việt – Nhật được kỳ vọng sẽ tiếp tục phát triển, nhưng tốc độ phát triển và chiều sâu của mối quan hệ này sẽ bị kiềm chế bởi sự phát triển quan hệ giữa Việt Nam với các nước lớn khác chẳng hạn như Trung Quốc.

Mấy năm gần đây, cùng với tình hình khu vực châu Á – TBD trải qua những thay đổi sâu sắc và phức tạp, các nước trong khu vực đua nhau điều chỉnh chính sách đối ngoại, quan hệ giữa các nước đã xuất hiện sựa chia tách, kết hợp mới. Trong đó, việc thúc đẩy sâu rộng toàn diện mối quan hệ Việt – Nhật mang tính đại diện nhất định, phản ánh xu thế mới trong sự phát triển của mối quan hệ giữa các quốc gia khác nhau. Việc quan sát tỉ mỉ những tiến triển mới và động cơ đằng sau sự hợp tác này, nắm bắt chính xác những động thái thay đổi chiến lược ở xung quanh Trung Quốc và toan tính chính sách của các nước trong khu vực, giúp Trung Quốc chủ động đánh giá xu hướng của khu vực trong thời gian tới, tích cực tạo dựng và hoạt động ở khu vực xung quanh.

1/ Sự phát triển mới của quan hệ Việt – Nhật

Từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1973 tới nay, quan hệ Việt – Nhật tuy có những thăng trầm, nhưng về tổng thể tiếp tục phát triển, chủ yếu trải qua ba giai đoạn sau: Giai đoạn đầu tiên là từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao đến năm 1979, hai nước chủ yếu triển khai hợp tác xoay quanh việc Nhật Bản viện trợ cho Việt Nam, trong bối cảnh cuộc Chiến tranh Việt Nam kết thúc, Mỹ rút quân khỏi Việt Nam, Nhật Bản đưa ra “học thuyết Fukuda” và muốn mở rộng ảnh hưởng ở Đông Nam Á, viện trợ Nhật Bản dành cho Việt Nam khiến quan hệ hai nước bước vào đúng quỹ đạo và tiếp tục phát triển. Giai đoạn thứ hai (1979 – 1992), do Việt Nam và Liên Xô kết thành đồng minh đồng thời xâm lược Campuchia nên Nhật Bản đã bắt tay với các nước phương Tây như Mỹ để trừng phạt Việt Nam, quan hệ Việt – Nhật rơi vào sa sút. Giai đoạn thứ ba là từ năm 1992 tới nay, Chiến tranh Lạnh kết thúc, vấn đề Campuchia được giải quyết, năm 1992 Nhật Bản cũng dỡ bỏ các biện pháp trừng phạt đối với Việt Nam, khởi động lại viện trợ đồng thời thực hiện bình thường hóa quan hệ, năm 2009 hai nước chính thức xác lập quan hệ đối tác chiến lược. Kể từ đó, đặc biệt là từ khi Shinzo Abe lên nắm quyền tới nay, quan hệ Việt – Nhật bước lên chuyến tàu nhanh, hai bên đã mở rộng và tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực ngoại giao, an ninh, kinh tế và nhân văn, quan hệ hai nước nổi lên xu thế phát triển toàn diện, sâu sắc và mang tính chiến lược.

Trước hết, sự hợp tác chiến lược trong lĩnh vực ngoại giao được tăng cường đáng kể. Bao năm qua, sự phát triển của quan hệ Việt – Nhật chủ yếu dựa vào sự hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội và nhân văn. Những năm gần đây, trọng tâm hợp tác giữa hai nước đã tập trung vào lĩnh vực ngoại giao và an ninh, thể hiện đầy đủ nội hàm chiến lược của mối quan hệ song phương. Sau khi lên cầm quyền vào tháng 1/2013, Thủ tướng Shinzo Abe lập tức tới thăm Việt Nam trong chuyến công du nước ngoài đầu tiên. Tháng 3/2014, Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang tới thăm Nhật Bản, quan hệ đối tác chiến lược Việt – Nhật đã được nâng cấp lên thành “quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng thúc đẩy hòa bình và thịnh vượng ở châu Á”. Tháng 9/2015, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiến hành chuyến thăm Nhật Bản lần đầu tiên, hai nước đã ký “Tuyên bố về Tầm nhìn chung quan hệ Việt – Nhật”, tập trung vào phát triển lâu dài, khai thác tiềm năng hợp tác về mặt chiến lược. Từ năm 2016 tới nay, cùng với việc Việt Nam thay đổi ban lãnh đạo sau Đại hội XII của Đảng Cộng sản, Chính quyền Shinzo Abe và các nhà lãnh đạo mới của Việt Nam đã có sự tương tác tích cực với nhau. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã tham dự Hội nghị mở rộng các nhà lãnh đạo G7 tổ chức tại Nhật Bản vào tháng 5/2016. Tại Hội nghị Á – Âu, hội nghị ngoại trưởng ASEAN diễn ra vào tháng 7/2016, nhà lãnh đạo Việt Nam và Nhật Bản đã đạt được nhận thức chung trong việc phối hợp lập trường chính sách về “Vụ kiện tòa trọng tài về vấn đề Nam Hải – Biển Đông”, gia tăng áp lực lên Trung Quốc, đồng thời Nhật Bản sẽ tăng cường viện trợ để giúp Việt Nam nhanh chóng nâng cao khả năng thực thi pháp luật trên biển.

Sự hợp tác chiến lược giữa hai nước trong lĩnh vực ngoại giao chủ yếu được tiến hành xung quanh ba vấn đề. Một là vấn đề Nam Hải. Đây là chủ đề quan trọng được các nhà lãnh đạo Nhật Bản và Việt Nam đề cập trong mỗi cuộc gặp. Hai nước đã cùng nhau đẩy mạnh việc quốc tế hóa vấn đề Nam Hải, kêu gọi giải quyết vấn đề Nam Hải theo luật biển quốc tế, xây dựng cái gọi là quy tắc của trật tự hàng hải tại nhiều diễn đàn đa phương như một loạt hội nghị của ASEAN, hội nghị thượng đỉnh giữa Nhật Bản và các nước tiểu vùng sông Mekong. Hai là vấn đề hội nhập và phát triển của tiểu vùng sông Mekong. Năm 2007, Nhật Bản hối thúc 5 quốc gia thuộc tiểu vùng sông Mekong cùng họ thiết lập “cơ chế đối tác hợp tác”, Việt Nam trở thành một đối tác hợp tác quan trọng, hai bên đã tăng cường hợp tác trong các vấn đề phát triển bền vững như lấy viện trợ kinh tế để thúc đẩy hội nhập kinh tế khu vực, kết nối phát triển, đối phó với biến đổi khí hậu và vấn đề dịch bệnh xuyên biên giới. Ba là, các vấn đề có liên quan đến lợi ích của nhau. Nhật Bản và Việt Nam cùng ủng hộ lẫn nhau, trong đó Việt Nam ủng hộ Nhật Bản đóng vai trò tích cực hơn trong các vấn đề quốc tế và khu vực, trở thành ủy viên thường trực của Hội đồng Bảo an, Nhật Bản tập trung giúp Việt Nam giành được nhiều sự ủng hộ của quốc tế hơn trong các phương diện phát triển quan hệ với phương Tây, đối phó với những thách thức biến đổi khí hậu.

Thứ hai, hợp tác an ninh không ngừng được mở rộng. Trước hết, cơ chế hợp tác an ninh đã không ngừng được hoàn thiện. Chuyến thăm Nhật Bản của Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh vào tháng 10/2011 là chuyến thăm đầu tiên của bộ trưởng quốc phòng Việt Nam kể từ 13 năm qua, hai nước đã ký “Bản ghi nhớ về hợp tác quốc phòng”, khởi động thực sự tiến trình hợp tác an ninh song phương, xác định tăng cường hợp tác trên các phương diện như chuyến thăm trao đổi giữa nhân viên và hình thành cơ chế trao đổi, chuyến thăm của tàu, đào tạo nhân viên, hàng không quân sự, tìm kiếm cứu nạn hàng hải và cứu trợ nhân đạo, chống khủng bố và gìn giữ hòa bình… Năm 2014, quan hệ Việt – Nhật được nâng cấp lên thành đối tác chiến lược, chủ yếu là muốn làm cho những lĩnh vực liên quan tới quan hệ hai nước “mang tính sâu rộng hơn”, trong đó sự hợp tác chặt chẽ trong lĩnh vực an ninh, thực hiện hiệu quả “Bản ghi nhớ về hợp tác trong lĩnh vực an ninh và quốc phòng”. Trong chuyến thăm Nhật Bản của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng năm 2015, việc hai nước sẽ “tăng cường hợp tác trong lĩnh vực an ninh và quốc phòng” đã được viết vào “Tuyên bố về Tầm nhìn chung quan hệ Việt – Nhật”, đồng thời hai nước đã ký hai văn kiện gồm “Bản ghi nhớ về tăng cường hợp tác gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc”. Cho đến nay, Nhật Bản và Việt Nam đã cùng nhau xây dựng được 3 cơ chế lớn về đối thoại quan hệ đối tác chiến lược, đối thoại chính sách quốc phòng, đối thoại về các vấn đề an ninh, dưới sự chủ trì của nhiều quan chức và bộ ngành như Thứ trưởng Ngoại giao, Thứ trưởng Quốc phòng, Bộ Công an, liên quan đến các vấn đề ngoại giao, quốc phòng, an ninh trong nước và tình báo. Hai là tăng cường hợp tác thiết thực với trọng điểm là an ninh trên biển, gìn giữ hòa bình quốc tế. Về phương diện an ninh trên biển, Nhật Bản đã tích cực hỗ trợ Việt Nam xây dựng năng lực trên biển, đồng thời coi sự hợp tác giữa hai nước là chỗ dựa để tăng cường sự hiện diện quân sự của mình ở Nam Hải. Tháng 8/2014, Chính quyền Abe tuyên bố cung cấp cho Việt Nam khoản vay ưu đãi để mua 6 tầu tuần tra trên biển có tổng cộng giá trị 4 triệu USD. Tháng 9/2015, Nhật Bản cho biết lại cung cấp cho Việt Nam thêm 2 tàu tuần tra như trên. Tháng 5/2016, trong cuộc gặp với người đồng cấp Nguyễn Xuân Phúc, Thủ tướng Shinzo Abe cho biết Nhật Bản “mong muốn đẩy mạnh nghiên cứu công nghệ và cung cấp cho Việt Nam tàu tuần tra hoàn toàn mới”. Ngoài sự hỗ trợ về trang thiết bị phần cứng, Nhật Bản còn thông qua sự hỗ trợ ở phương diện mềm như đào tạo nhân viên để giúp Việt Nam tăng cường toàn diện năng lực trên biển. Từ năm 2012 – 2015, Nhật Bản liên tiếp tổ chức các lớp đào tạo y tế dưới nước, mấy năm gần đây Việt Nam đã mua các tàu ngầm tiên tiến từ Nga nhưng lại thiếu năng lực đồng bộ liên quan đến những động thái trên của Nhật Bản đã góp phần nâng cao rõ rệt năng lực của Việt Nam ở trên biển. Nhật Bản và Việt Nam còn tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực như chuyến thăm của tàu, tập trận chung, chia sẻ thông tin tình báo. Tháng 2/2016, tàu của Lực lượng phòng vệ biển Nhật Bản và hai máy bay tuần tra P-3C đã cập cảng Đà Nẵng để tham gia cuộc tập trận chung giữa hai nước. Nhật Bản còn dự định ký “Thỏa thuận đảm bảo bí mật và chia sẻ thông tin tình báo quốc phòng” với Việt Nam để cung cấp thêm thông tin tình báo, bán các trang thiết bị quân sự tiên tiến. Trong phương diện gìn giữ hòa bình quốc tế, hai nước đã ký biên bản ghi nhớ hợp tác, Nhật Bản hỗ trợ cho Việt Nam qua việc đào tạo nhân viên, cung cấp thiết bị, dịch vụ chăm sóc sức khỏe.

(còn tiếp) 

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu các vấn đề quốc tế (TQ)

TLTKĐB – 01 & 02/03/2017

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s