Thứ ba, đưa sự hội nhập kinh tế đi vào chiều sâu. Kể từ năm 2006 tới nay, Nhật Bản luôn là quốc gia viện trợ nhiều nhất cho Việt Nam, chiếm đến 30%, trong đó từ năm 1992 – 2011, Nhật Bản tổng cộng viện trợ cho Việt Nam khoảng 20 tỷ USD. Về phương diện đầu tư, năm 2015 Nhật Bản trở thành nguồn đầu tư vốn nước ngoài (FDI) lớn thứ hai của Việt Nam, FDI tích lũy lên tới 38,9 tỷ USD; về lĩnh vực thương mại, năm 2015 Nhật Bản lần lượt xuất khẩu, nhập khẩu sang Việt Nam là 14,3 tỷ USD và 14,1 tỷ USD, Nhật Bản đã trở thành thị trường xuất khẩu lớn thứ 5, nguồn nhập khẩu lớn thứ 4 của Việt Nam. Với mục tiêu kết nối kinh tế và trói buộc về chiến lược, hai nước đã tăng cường hợp tác chiến lược trong lĩnh vực viện trợ, coi đó là trọng điểm để bức xạ dẫn dắt sự hợp tác trong lĩnh vực thương mại và đầu tư, từ đó làm cho quan hệ kinh tế Việt – Nhật vượt ra ngoài phạm trù kinh tế theo ý nghĩa thông thường và mang ý nghĩa chiến lược sâu sắc. Cụ thể, về phương diện hợp tác viện trợ, Chính quyền Abe coi việc ủng hộ Việt Nam phát triển như một sự nghiệp lâu dài, thực thi giúp đỡ mang tính chiến lược, đẩy mạnh viện trợ phát triển cho Việt Nam về mặt nguồn tiền. Năm 2013 và 2014, Nhật Bản lần lượt viện trợ cho Việt Nam số tiền là 179,3 tỷ và 155,6 tỷ Yen Nhật, lần lượt chiếm 44,6% và 43% trong tổng số tiền viện trợ cho 10 nước ASEAN trong cùng kỳ. Nhật Bản còn coi sự phát triển của Việt Nam là một công trình mang tính hệ thống, vừa hỗ trợ đầy đủ về các mặt liên quan đến phát triển, vừa trọng điểm viện trợ trong lĩnh vực then chốt. Một là hỗ trợ VIệt Nam thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa. Nhật Bản là đối tác duy nhất trong chiến lược công nghiệp hóa của Việt Nam. Tháng 1/2013, Chính quyền Abe đã ủng hộ “Chiến lược công nghiệp hóa của Việt Nam trong khuôn khổ hợp tác Việt Nam – Nhật Bản hướng đến năm 2020, tầm nhìn 2030”, quyết định hỗ trợ Việt Nam xây dựng nền tảng công nghiệp hóa trong 6 ngành nghề trọng điểm gồm điện tử, đóng tàu và sản xuất ôtô… Nhật Bản còn tập trung hỗ trợ Việt Nam trong các lĩnh vực đã kiềm chế sự phát triển của ngành công nghiệp trong thời gian dài như cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực, giúp Việt Nam xây dựng các khu công nghiệp, bến cảng, nhà máy điện, đó là còn chưa kể các công trình lớn như đường cao tốc, nhà máy điện hạt nhân, nhà ga số 3 sân bay Nội Bài. Hai là hỗ trợ Việt Nam thực hiện hiện đại hóa nông nghiệp. Bằng cách chủ yếu xuất khẩu các công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm quản lý, mở cửa thị trường cho các sản phẩm nông nghiệp, thúc đẩy các công ty Nhật Bản đầu tư nhiều hơn vào Việt Nam, Nhật Bản đã giúp Việt Nam thực hiện nâng cấp ngành nông nghiệp, tăng giá trị gia tăng của sản phẩm và nâng cao khả năng cạnh tranh quốc tế. Trong “Tầm nhìn trung hạn và dài hạn về hợp tác nông nghiệp Việt – Nhật” ký kết hồi tháng 9/2015, Nhật Bản cam kết trong 5 năm tới giúp Việt Nam xây dựng chuỗi giá trị thực phẩm từ sản xuất nông nghiệp đến chế biến, xây dựng thương hiệu, tiêu thụ sản phẩm. Ba là hỗ trợ Việt Nam hiện đại hóa công tác quản lý quốc gia, chủ yếu là giúp xây dựng hệ thống tư pháp, an sinh xã hội hiện đại, cung cấp thiết bị tiên tiến cho Việt Nam để giúp chính phủ nâng cao hiệu quả quản lý. Bốn là hỗ trợ Việt Nam phát triển đô thị hóa, trọng điểm là áp dụng kinh nghiệm, nguồn vốn và kỹ thuật xây dựng đô thị của Nhật Bản, giúp xây dựng các thành phố như Hà Nội, Hồ Chí Minh, từ lập kế hoạch, tìm kiếm nguồn vốn, thi công tới vận hành đầy đủ, liên quan đến nhiều lĩnh vực như giao thông công cộng, cung cấp điện và nước, xử lý nước thải, xây dựng “thành phố thông minh”. Năm là hỗ trợ Việt Nam phát triển bền vững, với trọng điểm là hỗ trợ về mặt tài chính và công nghệ trong lĩnh vực phòng chống và giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường… Sáu là ủng hộ Việt Nam hội nhập nền kinh tế thế giới, đưa quan hệ với các nước phương Tây đi vào chiều sâu, lấy cơ chế “Sáng kiến chung Việt – Nhật” làm cơ sở để thúc đẩy Việt Nam cải thiện môi trường đầu tư, khuyến khích các công ty Nhật Bản đầu tư vào Việt Nam, chuyển giao năng lực sản xuất tiên tiến, nâng cao vị thế của Việt Nam trong sự phân công của các ngành nghề trên thế giới.

Thứ tư, quan hệ xã hội và nhân văn được phát triển toàn diện. Nhật Bản trong thời gian dài luôn coi trọng đồng thời dùng số tiền lớn để thúc đẩy sự hợp tác và giao lưu nhân văn, xã hội giữa hai nước, hai nước đang duy trì mối quan hệ xã hội và nhân văn tương đối chặt chẽ, việc người dân hai nước hiểu nhau ở mức độ tương đối cao đã trở thành cơ sở chiến lược quan trọng cho quan hệ hai nước phát triển ổn định và lâu dài. Mấy năm gần đây, xuất phát từ góc độ làm cho tình cảm của người dân xích lại gần nhau, tăng thêm sức hấp dẫn của văn hóa xã hội, qua đó củng cố nền tảng chiến lược, Nhật Bản đã tập trung vào việc đi sâu khai thác tiềm lực hợp tác, đẩy mạnh hơn nữa sự phát triển của quan hệ hai nước trong lĩnh vực khoa học nhân văn và xã hội, ngoài việc tăng cường trao đổi giữa các địa phương hai nước, giúp đỡ các nhóm thiệt thòi, đơn giản hóa thủ tục visa để tạo điều kiện troa đổi nhân viên, Nhật Bản còn đặt trọng điểm hợp tác vào ngành giáo dục và văn hóa, thể dục thể thao. Trong lĩnh vực giáo dục, Nhật Bản đẩy mạnh việc dạy tiếng Nhật tại các trường tiểu học và trung học Việt Nam đồng thời chi tới 16,23 triệu USD để xây dựng trường Đại học Việt – Nhật, biến nó thành trường đại học có chất lượng cao nhất Đông Nam Á. Tính đến tháng 5/2015, đã có 380.000 sinh viên Việt Nam du học tại Nhật Bản, Việt Nam trở thành nước có số lưu học sinh lớn thứ hai tại Nhật Bản. Ngoài ra, Nhật Bản sẽ tập trung vào việc “lồng ghép” mô hình giáo dục kiểu Nhật Bản cho Việt Nam, đặc biệt là trong việc thiết kế chương trình giảng dạy, tuyển sinh theo tiêu chuẩn hóa. Trong lĩnh vực văn hóa và thể dục thể thao, hai nước sẽ tập trung vào việc thúc đẩy giao lưu thanh niên và văn hóa nghệ thuật, bao gồm thông qua các kế hoạch như “tích hợp và thực hiện một cách hài hòa sự tương tác của châu Á”, “mạng lưới giao lưu thanh niên và học sinh Nhật Bản Bản – Đông Á” để đi sâu trao đổi và giao lưu giữa hai bên, Nhật Bản ủng hộ Việt Nam đăng cai các phong trào như Thế vận hội châu Á 2019 và phát triển bóng đá, hai nước còn cùng nhau tổ chức các ngày văn hóa.

2/ Đông lực khiến quan hệ Việt – Nhật không ngừng phát triển

Mấy năm gần đây, cùng với sự phát triển nhanh của Trung Quốc, Mỹ thực hiện chiến lược “Tái cân bằng châu Á – TBD”, cuộc đọ sức chiến lược giữa các nước lớn gia tăng, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ và quyền lợi biển trong khu vực nóng lên, cục diện sức mạnh và tình hình an ninh khu vực châu Á – TBD đều có những thay đổi đáng kể. Trong bối cảnh này, Nhật Bản và Việt Nam đều điều chỉnh chính sách đối nội và đối ngoại, nhu cầu cần dựa vào nhau tăng lên trở thành động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển nhanh của mối quan hệ này. Đối với Nhật Bản, kể từ khi lên cầm quyền tới nay, Chính quyền Shinzo Abe luôn gắng sức làm cho Nhật Bản trở thành một “cường quốc hàng đầu”, có sự điều chỉnh đáng kể trong chiến lược đối nội và đối ngoại. Về đối nội, thực thi “Abenomics”, đẩy mạnh việc sửa đổi hiến pháp để phục hồi kinh tế, loại bỏ những rào cản về mặt thể chế để trở thành nước lớn. Về đối ngoại, thực hiện song song 3 chiến lược lớn là tập trung vào việc tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi cho Nhật Bản trở thành cường quốc hàng đầu, đối trọng với Trung Quốc, tối ưu hóa và đa dạng hóa việc sắp đặt đầu tư và thương mại ở nước ngoài. Và ở trong những phương diện này, Việt Nam có giá trị quan trọng đối với Nhật Bản, xuất phát từ toan tính đẩy mạnh lợi ích và chiến lược, Nhật Bản đã tích cực lôi kéo Việt Nam. Thứ nhất, tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho Nhật Bản trở thành nước lớn về chính trị và quân sự. Nhật Bản coi việc tăng cường liên minh Mỹ – Nhật, phát triển quan hệ với các nước đối tác khác như ASEAN, nâng cao sức mạnh mềm ở nước ngoài, mở rộng quyền lực trên biển là trọng điểm chiến lược để thực hiện mục tiêu cường quốc. Nhật Bản lấy vấn đề Nam Hải (Biển Đông) như là điểm khởi đầu, hỗ trợ Việt Nam xây dựng năng lực, điều này có lợi cho việc Nhật Bản tăng cường sự hiện diện quân sự trên biển, tạo hình ảnh là nhà cung cấp các sản phẩm công cộng quan trọng trong lĩnh vực an ninh quốc tế, thúc đẩy mạnh mẽ việc quân đội nước này “đi ra ngoài”. Mấy năm gần đây, Việt Nam và Mỹ cũng liên tục xích lại gần nhau, Việt Nam và Nhật Bản ngày càng tăng cường hợp tác, nhất là trong lĩnh vực có sự hợp tác với Mỹ và Nhật Bản như an ninh hàng hải, phát triển bền vững, điều này đóng vai trò tích cực vào việc tăng cường liên minh Mỹ – Nhật và mở rộng sang khu vực Đông Nam Á. Trong phương diện phát triển quan hệ với ASEAN, Nhật Bản coi các nước ASEAN là những người ủng hộ quan trọng trong quá trình trở thành “cường quốc”, đồng thời tìm cách thông qua phát triển quan hệ với các nước này để phòng ngừa rủi ro chiến lược quá lệ thuộc vào Mỹ, mở rộng không gian chiến lược để chế định sách lược cho địa vị nước lớn. Thông qua phát triển quan hệ với Việt Nam, Nhật Bản có thể giành được sự ủng hộ để thực hiện giấc mộng nước lớn, đồng thời coi Việt Nam là cầu nối để tăng cường hợp tác chiến lược với ASEAN. Các nước Đông Nam Á như Việt Nam được gọi là kiểu mẫu thành công của chính sách viện trợ phát triển sau chiến tranh của Nhật Bản. VIệt Nam lại đang đối mặt với tương đối nhiều thách thức trong việc phát triển bền vững, điều này đã tạo không gian cho Nhật Bản tăng cường các viện trợ liên quan cho Việt Nam, tạo dựng kiểu mẫu hơn nữa, tăng cường sức mạnh mềm. Về việc mở rộng quyền lực trên biển, Chính quyền Abe nỗ lực bảo vệ việc thành lập cái gọi là trật tự biển châu Á – TBD trên cơ sở luật pháp quốc tế, trên thực tế từ lâu đã do Mỹ và Nhật Bản thống trị, đảm bảo an ninh tuyến đường giao thông trên biển “đi qua vịnh Persian, eo biển Hormuz, Biển Đỏ, vịnh Aden tới vùng biển gần của Nhật Bản trong đó đi qua Ấn Độ Dương, eo biển Malacca và Nam Hải”. Khoảng 95% lượng nhập khẩu năng lượng, 40% thương mại trên biển của Nhật Bản phải đi qua Nam Hải. Việt Nam được bao quanh bởi Nam Hải, mũi cực Nam cách eo biển Malacca chưa đến 1000 km. Thông qua hỗ trợ Việt Nam phát triển sức mạnh biển, tăng cường sự hợp tác an ninh có liên quan, Nhật Bản có thể đạt được mục tiêu dựa vào sức mạnh của Việt Nam để đảm bảo an ninh tuyến đường biển, và tăng cường sự hiện diện quân sự tại Nam Hải, nâng cao năng lực quân sự để đối trọng với Trung Quốc ở biển, đồng thời về mặt khách quan giúp giảm bớt sức ép quân sự của Nhật Bản ở quần đảo Điếu Ngư. Về ngoại giao, Nhật Bản có thể thông qua bắt tay với Việt Nam và ủng hộ tiếng nói của Việt Nam trên trường quốc tế, làm nổi bật tính hợp pháp của việc dùng luật pháp quốc tế giải quyết vấn đề Nam Hải, duy trì trật tự hàng hải do Mỹ và Nhật Bản giữ vai trò chủ đạo.

(còn tiếp) 

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu các vấn đề quốc tế (TQ)

TLTKĐB – 01 & 02/03/2017

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s