R. Rappaport (1968) cũng là một nhà nghiên cứu theo thuyết tiến hóa và thuyết coi sinh học là trung tâm. Ông này nổi tiếng với lý thuyết về nghi lễ của mình; nói cho đúng thì với ông này, tôn giáo và nghi lễ gần như là đồng nghĩa. Các bậc tiền bối trực tiếp của ông này là – Victor Terner, Mary Douglas, Clifford Geertz. Mặt khác, tên tuổi của ông lại được gắn với phái “chủ nghĩa duy vật văn hóa” của Marwin Harris, một nhà marxist nhất quán, luôn giải trình nghiên cứu về nhân học của Rappaport ở Papua New Guinea, trong đó đã trình bày quan điểm thích văn hóa như là một hệ thống các phương tiện thực tiễn để thích ứng với môi trường xung quanh. Đặc biệt là Harris đã trích dẫn cuốn “Những con lợn dành cho tổ tiển”, một công trình nghiên cứu nhân loại học sinh thái của mình. Ở đây ông ta đã phát hiện ra chức năng mấu chốt của nghi thức là để duy trì sự ổn định của các hệ sinh thái. Tất cả các xuất bản phẩm sau đó của ông ta, kể cả cuốn gần đây nhất – một công trình luận thuyết – cũng là diễn đàn để phát triển tư tưởng này: chức năng của tôn giáo là nhằm gạt bỏ những mối hoài nghi ngờ vực, duy trì trật tự xã hội và thậm chí cả sự cân bằng sinh thái. Rappaport là tác giả đáng chú ý trước hết là vì ông nhấn mạnh vào chức năng điều chỉnh sinh thái của tôn giáo tuy điều này áp dụng nhiều hơn là cho các cộng đồng xã hội nhỏ lẻ và khá cổ sơ. Robert Segal, tác giả bài viết về Rappaport đã phê phán ông này là chỉ chuyên chú vào nghi lễ và đã không đánh giá hết ý nghĩa của các mặt biểu hiện khác của tôn giáo; chỉ trích ông này là theo quan điểm chức năng luận thô giản và kết luận tư biện vụng về ở phần cuối sách (p77).

Cuối cùng, cùng một dạng các lý thuyết theo lập trường coi sinh học là trung tâm, theo thuyết tiến hóa còn có những cuốn sách rất sáng rõ và đầy khiêu khích của nhà triết học trường phái Boston Daniel Dennet và nhà thần học và sinh học của Đại học Oxford là Richard Dowkins.

Bây giờ chúng tôi xin chuyển sang tổng thuật vắn tắt một số bài viết về các lý thuyết không liên quan đến bước ngoặt nhận thức hay sinh học tiến hóa mà đúng hơn nên đặt tên cho các lý thuyết này là thuộc loại lý thuyết coi xã hội là trung tâm (sociocentrism).

Cũng xin nói rằng có thể giải thích phần nào hai tác giả Rodney Stark và Roger Finke có theo khuynh hướng tiếp cận nhận thức. Trong cuốn sách luận thuyết của mình nhan đề “Sự nghiệp của đức tin” họ đã đề xuất cái mà họ gọi là “chuẩn thức mới” đối lập lại với luận thuyết cũ về thế tục hóa cũng như chống lại “chủ nghĩa vô thần mới” của Dawkins. Gregory Alles đã phân tích rất hay việc Stark và Finke đã áp dụng “lý thuyết lựa chọn duy lý” vào việc hiểu tôn giáo như thế nào. Điểm mới mẻ của “chuẩn thức mới”, theo ý kiến của chính các nhà lý thuyết này, là ở thái độ đối với thực chất của tôn giáo: tôn giáo không phải là tâm điểm trung tâm của thứ phi duy lý luận vô vọng, mâu thuẫn với khoa học, kinh tế và các sản phẩm khác của Thời Hiện đại mà trái lại, như là một hệ thống tư tưởng và hành động dựa trên sự cân nhắc tính toán duy lý và tự giác và nếu hiểu theo nghĩa đó thì nó hoàn toàn phù hợp với Thời Hiện đại.

Alles cho rằng Stark và Finke kế thừa Lokka và Adam Smith và thể hiện một cách tuyệt đối, cực đoan quan điểm của Mỹ khi nhìn nhận vấn đề. Giống như cách giải thích của tiếp cận nhận thức, tôn giáo đối với Stark và Finke là thuộc tính tự nhiên, bẩm sinh đã có, không thể tách bỏ của con người. Tôn giáo vận hành theo các quy luật kinh tế. Thị trường tự do của các tôn giáo luôn hoạt động. Cầu đẻ ra cung. Người ta lựa chọn tôn giáo của mình dựa trên cơ sở những tính toán duy lý. Mục đích là làm sao cho có lợi nhất; trong trường hợp của tôn giáo thì “lãi” cao nhất là sự cứu rỗi. Con người ta có xu hướng gắn các cơ hội lớn nhất để được cứu rỗi với các tôn giáo đắt giá hơn (đầu tư càng lớn thì càng lãi nhiều) Stark và Finke đã miêu tả rất chi tiết thị trường tôn giáo này trên ba cấp độ – vi mô (cá nhân), trung mô (mezo, các nhà thờ và giáo phái) và vĩ mô (“nền kinh tế tôn giáo” nói chung).

Trong lý thuyết lựa chọn duy lý có những phát hiện và quan sát rất đáng chú ý, và có cả một cơ sở dữ liệu kinh nghiệm xã hội học (định lượng) không tồi. Trong khi đó thì nó xem ra lại hời hợt và sơ lược và dễ bị chỉ trích. Alles nêu ra cho các nhà lý thuyết cả một danh mục dài các yêu sách. Không thể quy “các hành vi của đức tin (cũng như các mối quan hệ người nói chung) chỉ về các hành vi trao đổi vụ lợi kiểu chủ nghĩa trọng thương (mercantil) (vậy còn các mối quan hệ biếu tặng, cho hiến, chẳng hạn, thì sao?). Không giải thích được tại sao các thánh thần “tối thượng cao minh” rất xa lạ với cách trao đổi như vậy lại được tôn kính hơn là các thần thánh của hành động trực tiếp. Không thể chỉ khảo sát, nghiên cứu chỉ với các tập nhóm tôn giáo có địa bàn ranh giới và bản sắc rõ ràng mà không chú ý đến rất nhiều dạng thức luân hoạt và linh động của thực tại tôn giáo. Không thể chỉ lấy duy nhất có khái niệm “các giáo phái” trong Phúc âm Tin Lành làm hình mẫu mang tính phổ quát được. Cuối cùng, việc coi mô hình homo oeconomicus là cái có ý nghĩa nhân học phổ quát là điều rất đáng ngờ. Còn nếu nhìn sâu vào căn cốt vấn đề thì thật nực cười nếu coi mọi hành vi của con người chỉ là những hành vi của sự lựa chọn duy lý.

Nhà nghiên cứu người Mỹ Thomas Tweed, một nhà tôn giáo học chuyên nghiệp từ Austin (Texas), làm việc theo phong cách nhân loại học truyền thống thì lại không hề trích dẫn các cách tiếp cận coi sinh học là trung tâm đang là thời thượng. Tuy vậy, trong cuốn sách có ý nghĩa khái quát của ông xây dựng trên cơ sở các nghiên cứu dã ngoại rất tỉ mỉ, tinh tế về thực tiễn tôn giáo của các đoàn di-gan người Cuba tại miền nam Florida, tôn giáo được giới thiệu bằng các phạm trù đời sống sinh hoạt của con người “hữu cơ”, như là một không gian “vận động và sinh sống”. Cố gắng bảo vệ chính khái niệm “các tôn giáo” khỏi sự chỉ trích trong những thập niên gần đây, Tweed, theo ý kiến của Aaron Hudge, có nguy cơ sa vào duy bản chất luận (essentianlism) và trở nên kém mạch lạc hơn khi tách ra khỏi vốn tài liệu dã ngoại của mình (p215 – 221).

Cuối cùng là các bài viết đề cập đến hai nhà xã hội học người Đức. Nikolas Lhumann, một tác giả nặng về kinh điển đã viết tặng tôn giáo một tập sách riêng trong cả một loạt công trình nghiên cứu chuyên biệt về các tiểu hệ thống xã hội thuộc một dự án có tính hệ thống, đồ sộ, vững chãi, khó lòng xào xáo lại được của ông. Cuốn sách về tôn giáo ra sau các chuyên khảo về khoa học, kinh tế, pháp luật và tiểu hệ thống chính trị được xuất bản sau khi ông qua đời. Peter Boyer viết về người thày của mình đầy thành kính, đồng thời cũng thừa nhận một cách tỉnh táo tính chất ngoài lề của lý thuyết tôn giáo của Lhumann và tầm ảnh hưởng chung hạn chế của nó. Có cảm tưởng là Lhumann không định suy ngẫm về tôn giáo ngoài giới hạn phiên bản “khác biệt của nó trong xã hội Thời Hiện đại đã thế tục hóa sâu sắc; và mặc dù ông ta đưa ra một tiểu phẩm hài các dạng thức tôn giáo thay thế nhau trong quá trình lịch sử, kiến thức ngoài phạm vi Kito giáo của ông ta rất nghèo nàn. Nhưng Boyer đã nhấn mạnh vào một điểm quan trọng mà phương pháp luận của Lhumann đưa ra được, đó là: đưa tôn giáo kết nhập vào siêu hệ thống bao trùm của hoạt động giao tiếp, giải thích nó chính là qua lăng kính lý thuyết giao tiếp chung của xã hội.

(còn tiếp) 

Người dịch: Phụng Sơn Ngô

Nguồn: TN 2015 – 15 & 16, 17

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s