Các ví dụ về thành công và thất bại trong các tai nạn công nghiệp – Phần I


Trong thế giới công nghiệp hóa hiện tại được vận hành bằng giá cả thấp hơn, cạnh tranh tăng cao và các công ty đa quốc gia, khả năng khủng hoảng xảy ra là vô cùng lớn. Vận chuyển dầu toàn cầu, sản xuất vải vóc, khai thác gỗ trên quy mô lớn, là những ví dụ về nhiều kiểu ngành công nghiệp rất dễ gặp phải khủng hoảng công ty. Các cơ quan chính phủ như Cơ quan Quản lý An toàn và Sức khỏe nghề nghiệp, Viện Nghiên cứu quốc gia về An toàn và Sức khỏe nghề nghiệp điều tra hàng trăm vụ tai nạn công nghiệp mỗi năm ở Mỹ. Bài này nghiên cứu 3 vụ tai nạn công nghiệp để giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của sự không chắc chắn, truyền đạt thông tin, và khả năng lãnh đạo trong một cuộc khủng hoảng. Trường hợp đầu tiên là Exxon với vụ tràn dầu tài Valdez, giờ đã trở thành điển hình. Trường hợp thứ hai tập trung vào một đám cháy nhà máy ở Malden Mills, một nhà máy sản xuất vải ở Mathuen, Massachusetts. Trường hợp thứ ba nghiên cứu vụ cháy nhà máy cưa Cole Hardwoods ở Logansport, Ấn Độ. Mỗi công ty trong các công ty nêu trên đã trải qua các cuộc khủng hoảng tàn khốc và có những mức độ thành công khác nhau trong việc truyền đạt thông tin trong khủng hoảng.

Chúng tôi muốn bạn đánh giá mỗi trường hợp trong bài này. Khi các bạn đọc các trường hợp này, đặc biệt chú ý đến các bài học đã được rút ra từ các bài trước. Đánh giá của bạn nên dựa vào cách bạn nghĩ rằng các nhà truyền đạt thông tin trong tình trạng khủng hoảng đã đối đầu với thử thách của sự không chắc chắn như thế nào, các cột mốc chúng tôi chỉ ra cho truyền đạt thông tin có hiệu quả trong khủng hoảng, và các mục tiêu vạch ra cho sự lãnh đạo có hiệu quả trong khủng hoảng.

Trường hợp đầu tiên mà chúng ta sẽ nghiên cứu, Exxon, tập trung vào kiểm soát sự không chắc chắn sau một cuộc khủng hoảng. Trường hợp thứ hai, Malden Mills, nghiên cứu về vai trò của truyền đạt thông tin có hiệu quả trong khủng hoảng. Cole Hardwoods, trường hợp thứ ba, tập trung vào cách tiếp cận sự lãnh đạo trong khủng hoảng của Milt Cole. Sau khi xem xét lại mỗi trường hợp, chúng tôi sẽ yêu cầu bạn phê bình các trường hợp này qua các bài học. Trong mỗi trường hợp, bạn sẽ đưa ra quyết định và xác định xem liệu các bài học về sự không chắc chắn, truyền đạt thông tin trong khủng hoảng, và sự lãnh đạo đã đạt được bởi các công ty này chưa và liệu sự đối phó chung với cuộc khủng đã là hiệu quả chưa. Thêm vào đó, khi bạn nghiên cứu các trường hợp, hãy cân nhắc xem liệu có các ngoại lệ về các bài học không hay liệu các trường hợp này có minh họa những lúc mà các bài học không chính xác không. Các câu hỏi ở cuối mỗi trường hợp sẽ cho bạn nhiều cơ hội để thảo luận, tranh luận, và chúng tôi mong rằn gbạn sẽ hiểu hơn về truyền đạt thông tin có hiệu quả trong khủng hoảng. Chúc may mắn và vui vẻ.

Bài học về sự không chắc chắn

Exxon và vụ tàu chở dầu Valdez mắc cạn

Exxon-Mobil là một trong những công ty dầu lớn nhất thế giới. Năm 1989, trước khi sáp nhập với công ty dầu Mobil, Exxon trải qua vụ tràn dầu lớn nhất ở vùng biển của Mỹ. Mặc dù vào lúc đó, đây chỉ là vụ tràn dầu lớn thứ 53 đã được ghi lại, có ít vụ tràn dầu đã gây tiếng xấu như vụ này. Vụ tràn dầu của Exxon cũng là một trường hợp điển hình về độ không chắc chắn cao mà một công ty có thể trải nghiệm sau một cuộc khủng hoảng. Vào năm 2006, các cuộc tranh luận vẫn tiếp tục về hậu quả của cuộc khủng hoảng và mức độ có trách nhiệm của Exxon trong việc dọn dẹp. Chúng tôi có một vài nhân tố về hoàn cảnh của cuộc khủng hoảng dưới đây.

Bất đồng ý kiến về chuẩn bị và lên kế hoạch cho khủng hoảng

Từ khi bắt đầu khai thác dầu ở Alaska, một mối quan hệ gây tranh cãi đã tồn tại giữa một phe là các công ty dầu và một phe là những người kiếm sống ở Alaska và các nhóm bảo vệ môi trường. Những người khai thác dầu thấy Alaska có tiềm năng lớn và có thể cho lợi nhuận cao, trong khi thành viên của ngành công nghiệp đánh cá và các nhóm bảo vệ môi trường coi việc khai thác dầu là một hoạt động có khả năng làm ô nhiễm môi trường nguyên sơ của họ.

Những người quan tâm tới môi trường yêu cầu phải có sự lên kế hoạch và chuẩn bị cho khủng hoảng nghiêm ngặt. Các công ty dầu và các nhóm bảo vệ môi trường tranh cãi kịch liệt về các vấn đề như sử dụng tàu chở dầu có vỏ kép, sử dụng chất phân tán hóa học, và đánh giá chính xác khả năng tràn dầu ở eo biển Prince William. Các nhóm bảo vệ môi trường tin rằng tàu chở dầu có vỏ kép sẽ cung cấp thêm sự bảo vệ trong các vụ tai nạn tàu chở dầu, nhưng bị miêu tả là không thiết thực hoặc quá tốn kém vì khả năng bị giảm sút của chúng. Các chất phân tán hóa học, được các công ty dầu ca ngợi về khả năng dọn dẹp sạch các vụ tràn dầu, không được chấp nhận bởi các nhóm bảo vệ môi trường và được miêu tả là làm nặng nề thêm các tác hại đến môi trường. Và cả hai nhóm đã có các ước tính rủi ro khác nhau khi xác định thiệt hại có thể có của một vụ tràn dầu ở Alaska. Từ khi dầu bắt đầu được khai thác ở Alaska cho đến khi có vụ tràn dầu của tàu Valdez, các công ty dầu và các nhóm bảo vệ môi trường đã bất đồng quan điểm về khả năng chuẩn bị và phản ứng nếu một vụ tràn dầu thực sự xảy ra.

Vào ngày 24 tháng 3 năm 1989, lúc 12 giờ 9 phút sáng, tàu Valdez của Exxon mắc cạn ở đảo Goose, eo biển Prince William. Joseph Hazelwood, thuyền trưởng tàu Valdez, đã gọi cứu hộ bờ biển và thông báo với họ rằng tàu Valdez đang bị rò rỉ dầu. Bộ phận lãnh đạo của Exxon được thông báo vào khoảng 12 giờ 30 phút sáng.

Phản ứng của Exxon trước một cuộc khủng hoảng không chắc chắn

Phản ứng đầu tiên của Exxon trước vụ tràn dầu là không có sự khẩn trương và vẫn theo thông lệ. David Parrish, phát ngôn viên của công ty, ban đầu làm giảm nhẹ hậu quả của vụ tràn dầu và nói rằng Exxon không dự tính sẽ có thiệt hại gì đối với môi trường. Trong những ngày sau vụ tràn dầu, những nhà quản lý cấp cao của Exxon tiếp tục khẳng định rằng Exxon sẽ có khả năng dọn dẹp vụ tràn dầu nhanh chóng và không làm tổn hại đến môi trường. Dựa trên việc lên kế hoạch đối phó với khủng hoảng và ước tính rủi ro của Exxon, họ tin rằng họ có thể dùng chất phân tán hóa học để dọn sạch vụ tràn dầu khá nhanh chóng. Các nhóm bảo vệ môi trường vẫn còn nhiều nghi ngờ.

William J. Small (1991), sau khi đã giữ các chức vụ như phóng viên thường trực tại Washing cho đài CBS, Phó Chủ tịch cấp cao cảu đài CBS, và Chủ tịch của cả đài NBC News và UPI, chỉ trích hệ thống quản lý của Exxon vì sự thiếu truyền đạt thông tin về cuộc khủng hoảng:

Một trong những lời chỉ trích nặng nề nhất được dành cho việc Chủ tịch Lawrence Raul không chịu xuất hiện trước công chúng tới gần một tuần sau khi chiếc tàu chở dầu mắc cạn. Tạp chí Business Week sau đó nói: “Khi đối mặt với một cuộc khủng hoảng, hầu hết các Tổng Giám đốc đã học cách chịu trách nhiệm ngay lập tức và rõ ràng: Nhảy lên một chiếc máy bay, xuất hiện trên tivi và thể hiện sự hối lỗi của mình”. Tuy nhiên, Rawl không những tiếp tục ở lại New York mà còn không có bình luận công khai gì trong suốt một tuần (p17).

Trong cố gắng dọn dẹp, một trong những vấn đề được tranh cãi kịch liệt nhất là việc cấm dùng chất phân tán. Exxon muốn dùng chất phân tán khí. Tuy nhiên, Viện Nghiên cứu Quốc gia về Khoa học Y tế đã trích dẫn các cuộc nghiên cứu cho thấy, các chất phân tán gây ra ung thư thận ở các loài động vật trong phòng thí nghiệm. Thêm nữa, các nhà phê bình tranh luận rằng, không có đủ chất phân tán để đối phó với độ lớn của vụ tràn dầu. Sau đó, Exxon nói rằng, việc thử nghiệm chất phân tán làm trì hoãn khả năng khắc phục vụ tràn dầu của họ. Các nhà phê bình đáp trả rằng, Exxon không chuẩn bị đủ để đối phó với một vụ tràn dầu lớn như vậy và các chất phân tán không có hiệu quả trong loại nước có động mạnh xuất hiện ít lâu sau vụ tràn dầu.

Trong cuộc khủng hoảng, các nhà phê bình của Exxon cho rằng, các ảnh hưởng của vụ tràn dầu sẽ kéo dài. Exxon không đồng ý, và chọn cách tiếp cận giảm nhẹ để làm cho hậu quả của cuộc khủng hoảng giảm đi, một cách tiếp cận giờ đây đã trở nên quen thuộc với công ty này. Lawrence Rawl hỏi: “Nếu giới báo chí quay trở lại Valdez như họ đã quay trở lại nơi xảy ra vụ tai nạn hạt nhân ở đảo Three Mile (gần đúng 10 năm trước), họ sẽ thấy gì?” Câu trả lời của ông là: “Không gì cả”.

“Tôi nghĩ rằng, họ có thể quay trở lại Valdez sớm hơn thế nhiều” (Small, 1991, p17). Tuy nhiên, Rawl đã vô cùng sai lầm.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Robert R. Ulmer, Timothy L. Sellnow, Matthew W. Seeger – Truyền thông hiệu quả trong khủng hoảng – NXB Tri thức 2009.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s