Nếu chỉ nhìn vào Israel, điều này là đúng. Khủng bố quốc tế hiện đại chủ yếu phát triển từ cuối những năm 1960. Trong suốt thời gian đó, Israel phải hứng chịu nhiều nhất. Với những tên khủng bố tồi tệ nhất thế giới – sẵn sàng buộc cả đống thuốc nổ vào những em bé – Israel chính là đối tượng nhắm tới, bị ghét bỏ. Mong muốn lớn nhất của chúng là quét sạch dân tộc nhỏ bé này ra khỏi bản đồ thế giới. Những tên khủng bố thường được hưởng sự bảo trợ của các nước Trung Đông vì cùng chung ước mơ hủy diệt “dân tộc Do Thái” nhưng không dám tấn công trực diện. Tuy vậy, Israel vẫn chưa bao giờ phải chịu đựng một cuộc tấn công của những tên khủng bố được trang bị vũ khí hủy diệt hàng loạt (WMDS). Điều này rõ ràng cho thấy rằng, việc sử dụng loại vũ khí đó không dễ dàng như vài người trong chúng ta vẫn nghĩ.

Về lý thuyết, những tên khủng bố có thể sử dụng virus, vũ khí hạt nhân hay những loại vũ khí tương tự có thể kiếm được trên thị trường chợ đen nhưng điều này thường chỉ xảy ra trên những bộ phim như James Bond và các bài báo lá cải chuyên cung cấp các loại tin đồn và suy đoán. Chúng cũng có thể giành được những loại vũ khí hủy diệt hàng loạt và rất mong muốn Israel hay Mỹ phải hứng chịu, nhưng bất kỳ một nhà lãnh đạo nào phát động một hành động như vậy đều phải cân nhắc rằng nếu, vai trò của ông ta trong cuộc tấn công bị lộ ra ngoài thì đất nước của ông ta sẽ nhanh chóng bị biến thành tro bụi. Đây là một điểm khác biệt lớn: Osama Bin Laden và những kẻ theo sau hắn có thể tử vì đạo nhưng Kim Jung In và những nhà lãnh đạo độc tài khác thì không. Các quốc gia này cũng phải cân nhắc rằng, họ có thể kiểm soát thời gian và bằng cách nào những tên khủng bố sử dụng những loại vũ khí mà họ cung cấp. Và họ lo ngại rằng “kẻ đại diện cho bọn khủng bố có thể không đáng tin cậy, có thể sử dụng các vũ khí đó để chống lại người bảo trợ cho chúng”, ghi nhận báo cáo năm 1999 tại Hội nghị Gilmore – một hội nghị tư vấn quốc hội được đặt theo tên Chủ tịch của hội nghị, ông Jim Gilmore, cựu thị trưởng Virginia, một người theo đảng Cộng hòa. Những suy xét này đã khiến các nước đó trong hàng thập kỷ không cung cấp những vũ khí hạt nhân, hóa học hay sinh học cho bọn khủng bố. Chẳng có lý do gì nghi ngờ những lập luận này trong tương lai lại không tiếp tục thuyết phục.

Điều này tùy bạn phán xét. Các cơ quan truyền thông lại khiến người ta nghĩ rằng, các loại vũ khí hủy diệt có thể được sản xuất một cách dễ dàng với công thức tìm được trên Internet và một vài cái ống thí nghiệm. Thật may mắn, ủy ban Gilmore cho biết: “Những kẻ khủng bố gặp rất nhiều khó khăn khi muốn phát triển một thế hệ vũ khí hủy diệt hàng loạt và sát thương. Báo cáo này không cho rằng bọn khủng bố không thể sản xuất hay phổ biến các tác nhân sinh học, hóa học có khả năng gây sát thương hay thậm chí là giết chết một số lượng người nhất định… hay có thể khởi động một cuộc tàn sát lên tới cả trăm người. Điều cần nhấn mạnh là tạo ra một loại vũ khí với khả năng giết hàng chục ngàn người, đòi hỏi việc đào tạo chuyên nghiệp tại đại học trong một môi trường khoa học và kỹ thuật cao, với một nguồn tài chính dồi dào, cùng với những thiết bị hiện đại, khả năng tiến hành những thử nghiệm ở yêu cầu kỹ thuật cao để đảm bảo tính hiệu quả của vũ khí cũng như khả năng triển khai của các phương tiện chuyên chở các loại vũ khí này”. Yêu cầu của tiến trình này quá cao đến nỗi chúng “dường như, vào thời điểm hiện tại, nằm ngoài khả năng của không chỉ đa số các tổ chức khủng bố, mà còn nằm ngoài khả năng của rất nhiều nước trên thế giới”. Một bản báo cáo của Thư viện Quốc hội Mỹ công bố năm 2005 cũng cho thấy điều tương tự “các vũ khí hủy diệt khó sản xuất và sở hữu hơn nhiều những gì báo chí vẫn hay nói và ngày nay nó vẫn nằm ngoài khả năng của hầu hết các nhóm khủng bố”.

Điều quan trọng cần nhớ rằng, dù sự hùng mạnh của Osama Bin Laden, chủ yếu dựa vào các cơ sở tại Afghanistan, nhưng hắn đã thất bại. Hiệu trưởng Viện nghiên cứu Radeliffe của trường Đại học Harvard và một nhóm các nhà nghiên cứu hàng đầu về khủng bố. Louis Richardson đã viết: “Trong khi có vài lo ngại rằng các thành viên của Al-Qaeda thể hiện sự quyết tâm có được vũ khí hóa học, thì lại không có bằng chứng nào cho thấy chúng đạt được điều đó cả”. Không phải lúc nào tham vọng cũng song hành với khả năng.

Bin Laden không phải là người đầu tiên hiểu được điều này. Quá tập trung vào thế giới Hồi giáo cực đoan chúng ta đã quên mất một giáo phái cuồng tín đầu tiên đã đạt được và sử dụng vũ khí hủy diệt hàng loạt trong khủng bố thuộc một giáo phái của Nhật Bản mang tên Aum Shirikyo. Aum do Shoko Asahara cầm đầu theo đuổi ý tưởng khởi động những cuộc tấn công khủng bố sát hại nhiều người với hi vọng sẽ thổi bùng lên một cuộc thánh chiến. Nguồn lực của Aum tương đối mạnh. Ở thời điểm đỉnh cao, giáo phái này có tới 60.000 thành viên. Ngoài Nhật bản, giáo phái này còn có cả văn phòng tại Australia, Nga, Đức và thậm chí cả New York. Với nguồn lực nhiều triệu USD tiền mặt và tổng số tài sản có thể lên đến 1 tỷ USD, Aum sở hữu những thành viên rất giỏi. Các thành viên thường đến từ các trường đại học hàng đầu của Nhật bản và các sinh viên xuất sắc trong các ngành sinh học, hóa học, vật lý, cơ khí khiến tổ chức này có những thiết bị và máy móc tốt nhất. Một nhà khoa học của Aum sau này thừa nhận rằng, nguyên nhân chính khiến ông tham gia vào giáo phái, đơn giản vì các phòng thí nghiệm của Aum tuyệt vời hơn nhiều so với những phòng thí nghiệm tại trường đại học của ông. Có những thời điểm, Aum có tới 20 nhà khoa học hàng đầu nghiên cứu về vũ khí sinh học, và khoảng 80 loại vũ khí sinh học khác. Aum cũng tìm kiếm vũ khí hạt nhân, tổ chức này đã mua một trang trại rộng 500.000 ha ở một vùng hẻo lánh của Australia với kế hoạch khai thác uranium và chở về Nhật Bản – “nơi các nhà khoa học sẽ sử dụng công nghệ làm giàu urani bằng laze để biến nó thành nguyên liệu phục vụ cho chế tọa vũ khí hạt nhân”. (Theo Ủy ban Gilmore). Tại Nga, Aum cố gắng mau số lượng lớn vũ khí “vì Nga nổi tiếng là thị trường cung cấp những loại vũ khí hiện đại như xe tăng, máy bay chiến đấu, tên lửa đất đối đất và thậm chí là cả vũ khí hạt nhân”.

Không có một cơ hội nào bị bỏ qua. Khi bệnh Ebola bùng phát tại Trung Phi vào tháng 10 năm 1992, Shoke Asahara đã dẫn đầu một đoàn 40 thành viên của giáo phái tới khu vực này dưới danh nghĩa cứu trợ nhân đạo. Các quan chức tin rằng, Aum đã cố gắng thu thập các mẫu chủng virus để có thể sản xuất hàng loạt tại Nhật Bản. Nhưng họ đã thất bại.

Đó không phải là thất bại duy nhất của Aum. Vụ tấn công sinh học nổi tiếng đầu tiên của nhóm liên quan tới việc phun chất botulinum – một chất cực độc gây ra ngộ độc thức ăn – từ ba chiếc xe tải vào các địa điểm được chọn là các cơ sở hải quân Mỹ, một sân bay, Tòa nhà quốc hội Nhật Bản và hoàng cung. Không ai bị nhiễm độc. Thậm chí cũng không ai biết là mình bị tấn công – sự việc chỉ được phát hiện sau đó 3 năm. Một vụ tấn công bằng botulinum nữa cũng thất bại vào tháng 6 năm 1993. Cùng năm đó, vụ tấn công bằng virus bệnh than đầu tiên đã bị thất bại. Tổng cộng giáo phái Aum đã tiến hành 9 vụ tấn công bất thành với hai loại vũ khí hóa học đáng sợ nhất nhằm mục đích khủng bố. Họ chẳng giết được ai cả. Điều này chứng tỏ, thậm chí cả Aum với nguồn lực phong phú, không thể nào vượt qua được rất nhiều rào cản thực tế để tàng trữ những dạng bệnh dịch chết người và phổ biến chúng một cách rộng rãi. Vì thế, giáo phái này đã chuyển sự chú ý sang các loại vũ khí hóa học và các tác nhân gây ảnh hưởng tới não. Bằng cách này, Aum đã đạt được một số thành công nhất định, sản xuất được số lượng lớn các loại khí mù tạt, xyanua có chứa natri, VX và sarin – hai chất sau là những loại khí tác động tới não bộ cực độc. Khi cảnh sát lục soát những cơ sở của Aum vào năm 1995, giáo phái này có đủ số lượng sarin để giết khoảng 4,2 triệu người.

Vậy mà điều kinh khủng cũng đã không xảy ra. Cuối cùng, một giáo phái âm mưu giết hàng triệu người và đã vượt qua mọi trở ngại để nắm giữ được vũ khí trong tay. Nhưng lại một lần nữa, Aum thất bại khi muốn gây ra một vụ hủy diệt hàng loạt.

Vào ngày 27 tháng 6 năm 1994, một số thành viên Aum lái chiếc xe tải thùng tới một khu dân cư tại Matsumoto, Nhật Bản. Bên trong xe, bọn khủng bố đã kích hoạt hệ thống máy tính điều khiển làm nóng sarin dạng lỏng thành hơi và thổi nó vào không khí bằng quạt gió. Điều kiện gió thật lý tưởng, những đám mây chết chóc hướng về những ô cửa đang mở trong không khí buổi tối ấm áp. Hậu quả là bảy người đã chết và 140 người bị ngộ độc nặng.

Vào ngày 20 tháng 03 năm 1995, Aum lại thử cách khác. Năm thành viên ăn vận như những doanh nhân và mang ô bước vào năm tuyến tàu lửa khác nhau của hệ thống tàu điện ngầm rất đông đúc ở thủ đô Tokyo. Họ mang tất cả 11 túi nhựa chứa đầy sarin. Những kẻ khủng bố dùng ô chọc thủng những chiếc túi được đặt trên sàn tàu và tháo chạy khỏi tàu, ba trong số 11 túi không bị thủng, 8 chiếc khác làm tràn ra ngoài khoảng 4,5 kg chất sarin. Khi chất lỏng này bị phán tán ra ngoài, nó sẽ bốc hơi: 12 người đã chết, 5 người khác bị ngộ độc nặng nề nhưng cuối cùng đã được cứu sống, 37 người khác bị thương nặng, trong khi 984 người nữa bị những biểu hiện nhẹ hơn.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Dan Gardner – Nguy cơ, khoa học & chính trị về nỗi sợ hãi – NXB LĐ-XH 2008.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s