Cuộc thí nghiệm lớn

Bước ngoặt đầu tiên trong sự biến đổi của dự án chính trị châu Âu đến vào năm 1986, khi những người theo chủ nghĩa xã hội Pháp như Delors và Mitterrand tham gia các lực lượng với những đảng viên đảng Bảo thủ như Kohl và Thủ tướng Anh Margaret Thatcher để ký kết Đạo luật chung châu Âu (SEA). SEA đại diện cho một sự phản ứng lại “bệnh xơ cứng châu Âu” (Eurosclerosis) của những năm 1970 và 1980, căn bệnh tăng trưởng thấp, bất ổn lao động và thất nghiệp và lạm phát cao kéo dài của châu Âu. Hiệp ước Rome đã thiết lập một thị trường chung và đưa “4 quyền tự do” vào luật pháp châu Âu: việc di chuyển tự do của người dân, các dịch vụ, hàng hóa và vốn. Nhưng vô số những quy định của quốc gia vẫn kiềm chế thương mại xuyên biên giới. Các nhà hoạch định chính sách châu Âu lập luận, chỉ bằng cách thông qua việc bãi bỏ quy định và mở rộng tự do hơn, thì châu Âu mới có thể thoát khỏi tình trạng kinh tế ảm đạm của họ. Và quả thực, vào năm 1992, EEC trở thành một thị trường chung thực sự.

Nhưng như nhà xã hội học kinh tế người Hungary Karl Polanyi cảnh báo vào giữa thế kỷ 20, không có điều gì tự nhiên đối với việc tạo ra các thị trường. Chúng đòi hỏi những đạo luật quan trọng về quyền lực nhà nước, để những hoạt động từng “gắn chặt” trong các mối quan hệ xã hội và chính trị địa phương trở thành những mặt hàng có thể buôn bán trong số những người tham gia ẩn danh. Những trao đổi cần trở nên “được tách bỏ” khỏi bối cảnh xã hội của chúng để trở thành những giao dịch thị trường. SEA là một sự tập luyện quan trọng trong việc loại bỏ các thị trường của các nước khỏi những sự bảo hộ, các quy định và truyền thống quốc gia của họ.

SEA đã tham vọng một cách lạ thường. Phần lớn các nước đòi hỏi người dân giữ các giấy phép quốc gia khi họ cung cấp các dịch vụ, dù là họ đang thiết kế một ngôi nhà, thực hiện phẫu thuật, hay đưa ra lời khuyên tài chính. Nhiều chính phủ vẫn theo dõi và hạn chế những dòng chảy vốn và tài chính vào và ra khỏi những quyền thực thi pháp lý quốc gia của họ. Tất cả các kiểu rào cản phi thuế quan như các tiêu chuẩn y tế, an toàn, và môi trường quốc gia, vẫn kiềm chế thương mại quốc tế đối với hàng hóa. Nhưng sau SEA, các công dân châu Âu có thể di chuyển dễ dàng trong số các thị trường lao động quốc gia, vốn có thể chảy tự do trên khắp các biên giới châu Âu, và những nhà sản xuất không còn phải đối phó với hàng đống tiêu chuẩn sản phẩm mâu thuẫn nhau. Một phi công Bồ Đào Nha có thể lái cho hãng hàng không Air France của Pháp, một ngân hàng Bỉ hiện nay có thể đầu tư ở Hy Lạp, và một người lái xe Đức có thể mua một chiếc Lamborghini của Italy mà không phải lo lắng liệu nó có tuân theo những tiêu chuẩn công nghệ và an toàn của Đức hay không. Thương mại đối với hàng hóa bên trong EEC đã tăng vọt. Thị trường chung vẫn không đầy đủ – một cách tai hại, nó thiếu một hệ thống thống nhất để giám sát và giải quyết những ngân hàng quan trọng nhất của châu Âu và theo dõi các cơ chế để cảnh cáo những gián đoạn đột ngột đối với những dòng chảy vốn quốc tế – nhưng nó đã đi xa hơn nhiều so với bất kỳ cuộc tập duyệt tương tự nào trong lịch sử hiện đại.

Quả thực, nhà khoa học chính trị Leif Hoffmann và Craig Parsons đã nhận xét rằng trong nhiều trường hợp, thị trường chung của Mỹ có nhiều quy định hơn của châu Âu. Chẳng hạn, trong việc mua sắm công, bang California hoặc thành phố Chicago có thể đưa ra sự ưu tiên cho những nhà cung cấp dịch vụ của bang hoặc của địa phương. Các nước thành viên của EU không thể ưu tiên các công ty quốc gia. Tương tự, quy định của nhiều dịch vụ ở Mỹ diễn ra ở mức độ bang, thay vì liên bang. Một thợ làm tóc được cấp phép chuyển từ Ohio sang Pennsylvania phải trải qua 2100 giờ đào tạo và vượt qua những bài kiểm tra viết và thực hành để có được giấy phép mới. Trái lại, một thợ cắt tóc từ Berlin có thể mở cửa hàng ở Paris ngay ngày hôm sau.

Nhưng thử nghiệm của EU trong việc tạo ra một thị trường tự do thực sự đã phải trả một cái giá. Sự cạnh tranh thị trường ngày càng tăng mà SEA đưa ra mang đến những lợi ích lan rộng, nhưng nó cũng tạo ra những người thắng và những kẻ thua, như những nhà sản xấut địa phương và những nhà cung cấp dịch vụ ở Pháp hay ở Vương quốc Anh hiện nay đối mặt với sự cạnh tranh mạnh mẽ hơn từ những nhà sản xuất Slovakia, thợ ống nước Ba Lan và những nhà thầu Romania rẻ hơn. Trong những năm bùng nổ, các nền kinh tế của châu Âu tạo ra đủ sự giàu có để bù đắp cho những kẻ thua. Tuy nhiên, khi tăng trưởng trì trệ, số lượng lớn cử tri quốc gia đã bắt đầu la hét đòi sự bảo vệ nhiều hơn khỏi thị trường mà EU xây dựng.

Tuy nhiên bởi vì SEA buộc các thị trường châu Âu ra khỏi nền chính trị dân chủ và các thể chế xã hội dựa trên cơ sở quốc gia của họ, các chính phủ châu Âu đã từ bỏ nhiều quyền lực của họ đối với việc can thiệp vào các nền kinh tế của quốc gia họ. Ở chừng mực nào đó, tiến trình này xảy ra ở mọi nơi do toàn cầu hóa, nhưng các nước châu Âu chấp nhận ưu thế của những thị trường quốc tế so với nền chính trị trong nước đến một mức độ lớn hơn nhiều so với các nước ở bất kỳ nơi nào khác trong thế giới công nghiệp tiên tiến. Do đó, họ đã thấy chính mình có ít sự kiểm soát hơn nhiều đối với nền kinh tế trong nước của họ so với bất kỳ nước phương Tây ngan hàng nào của họ. Và bởi vì các quy định liên quan đến thị trường chung của châu Âu chỉ đòi hỏi một đa số nước thành viên đủ điều kiện, thay vì sự nhất trí hoàn toàn, để trở thành luật, chúng đôi khi có thể trực tiếp xung đột với những lợi ích quốc gia. Chẳng hạn, vào tháng 8/2016, EU yêu cầu Chính phủ Ireland thu 14,5 tỷ USD tiền thuế chưa trả từ Apple, bất chấp những phản đối của Chính phủ Ireland rằng thuế công ty thấp là một thành phần chủ chốt của mô hình kinh tế của họ và là một “vấn đề chủ quyền cơ bản”.

“Ngày nào đó sẽ có một cuộc khủng hoảng”

Việc tạo ra đồng euro trong Hiệp ước Maastricht năm 1992 đại diện một sự mất mát quyền lực thậm chí nghiêm trọng hơn cho các chính phủ quốc gia của châu Âu. Những giới tinh hoa đưa ra đồng euro bởi vì họ tin rằng một thị trường chung sẽ hoạt động đúng đắn chỉ với một đồng tiền chung. Họ cũng lập luận rằng các quốc gia mở cửa và hợp nhất như các nước thành viên EU sẽ hưởng lợi từ việc chấm dứt những biến động tỉ giá trao đổi với một nước khác. Lặng lẽ hơn, họ mơ ước xây dựng một đồng tiền chung mà có thể thách thức uy thế toàn cầu của đồng USD.

Những người theo chủ nghĩa liên bang hoan nghênh đồng euro như một bước nhảy vọt lớn tới sự thống nhất của châu Âu, nhưng nó đưa châu Âu thậm chí xa hơn khỏi “embedded leberalism” thời hậu chiến mà đã củng cố khái niệm cuộc mặc cả lớn của Milward. Mặc cả đó đã để lại các nhà nước – dân tộc trong sự kiểm soát của hợp nhất châu Âu và giả định trước rằng các nền dân chủ cần có điều kiện để thay đổi khi những thời điểm là khó khăn để tái cân bằng những nền kinh tế của họ hướng tới tăng trưởng cao hơn và thất nghiệp thấp hơn, ngay dù điều đó có nghĩa là tạm thời dừng sự mở rộng tự do hơn nữa. Tuy nhiên việc thiết kế đồng euro không cho các nền dân chủ châu Âu sự tự do như thế. Việc đưa ra đồng tiền chung và Ngân hàng Trung ương châu Âu, mà có một sự ủy nhiệm duy nhất để duy trì ổn định giá cả, ngăn cản các nước thành viên theo đuổi những chính sách tiền tệ của riêng họ. Trong khi đó, những đòi hỏi tài khóa thắt lưng buộc bụng mà Đức khăng khăng yêu cầu, khiến các chính phủ khó khăn hơn nhiều trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bằng việc đẩy mạnh chi tiêu trong suốt một cuộc suy thoái. Hiệp ước ổn định và tăng trưởng 1997 đã yêu cầu những thâm hụt công thấp và tỉ suất nợ chính phủ ngày càng giảm, nhưng tên gọi của hiệp ước là một sự nhầm lẫn: hiệp ước làm xói mòn sự ổn định xã hội và tạo ra ít sự tăng trưởng. Mặc dù các chính phủ quốc gia thường phớt lờ hiệp ước, đặc biệt trong những năm đầu của đồng tiền chung, theo yêu cầu của Đức, EU đã siết chặt các quy định để đối phó với cuộc khủng hoảng đồng euro và làm cho bất kỳ chính sách tài khóa năng động nào cũng gần như là bất hợp pháp.

Đức là nước thắng cuộc lớn nhất từ đồng euro. Bởi vì đồng tiền của Đức không thể tăng giá so với các đồng tiền của những đối tác thương mại châu Âu cảu họ. Đức kiềm chế giá trị thực hàng xuất khẩu của họ, kết quả là một thặng dư thương mại ồ ạt. Nhưng đồng euro là một thảm họa với phần còn lại của châu Âu. Khi họ tạo ra đồng tiền, những giới tinh hoa châu Âu loại bỏ những cơ chế giảm sốc kinh tế mà các nước của họ theo truyền thống đã trông cậy vào mà không tạo ra bất kỳ cơ chế điều chỉnh mới nào. Các nhà lãnh đạo của châu Âu nghĩ rằng là dại dột khi thiết lập một liên minh tài khóa, tài chính và chính trị thực sự để bổ sung cho liên minh tiền tệ. Họ đã đánh giá đúng rằng cử tri của họ sẽ không chấp nhận điều này, và họ giả định rằng những cuộc khủng hoảng trong tương lai sẽ đẩy EU tới sự hợp nhất hơn nữa. Như cựu Thủ tướng Italy và là Chủ tịch Ủy ban châu Âu khi đó Romano Prodi, đã nhận xét vào năm 2001, trong thời gian trước khi phát hành tiền giấy và tiền xu euro, “Tôi chắc chắn rằng đồng euro sẽ buộc chúng ta đưa ra một bộ công cụ chính sách kinh tế mới. Về mặt chính trị không thể đề xuất điều đó lúc này. Nhưng một ngày nào đó sẽ có một cuộc khủng hoảng và những công cụ mới sẽ được tạo ra”.

Nhưng khi khủng hoảng tấn công, Ngân hàng Trung ương châu Âu ban đầu từ chối nới lỏng chính sách tiền tệ và trên thực tế đã tăng lãi suất; trong khi đó, các chính phủ quốc gia không còn có thể giảm giá trị tiền tệ của họ so với tiền tệ của những đối tác thương mại chính của họ để đẩy mạnh xuất khẩu, cũng không thể phát động các chương trình kích thích tài khóa. Điều đó khiến các biện pháp thắt lưng buộc bụng khắc nghiệt là phương án duy nhất của họ. Trong ngắn hạn, phản ứng này chỉ làm tồi tệ thêm cuộc khủng hoảng. Kể từ sau đó, EU tạo ra một số công cụ mới, bao gồm một liên minh ngân hàng và một hiệp ước tài khóa mới, mà chuyển giao trách nhiệm giám sát những ngân hàng lớn nhất của Khu vực đồng euro từ những nhà chức trách quốc gia sang cho Ngân hàng Trung ương châu Âu, lập ra một ủy ban xử lý đơn nhất để đóng cửa những ngân hàng thất bại, và thiết lập sự theo dõi mang tính xâm nhập hơn các ngân sách quốc gia. Nhưng lôgích của sự hợp nhất châu Âu vẫn như cũ: nhiều quy định siêu quốc gia hơn, ít sự tự do quyết định của quốc gia hơn. Chẳng hạn, Chính phủ Đức không thể bước vào cứu nguy cho Ngân hàng Deutsche, từng là một biểu tượng sức mạnh tài chính của Đức, dù Berlin đánh giá việc làm vậy là vì lợi ích quốc gia, Chính phủ Italy cũng không thể chịu thâm hụt tài khóa lớn hơn để chống lại việc thiếu tăng trưởng kinh tế kinh niên của họ.

(còn tiếp) 

Nguồn: Foreign Affairs – số tháng 1 – 2/2017

TLTKĐB – 16/01/2017

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s