Đặc điểm cuối cùng cần phải bình luận thêm. Trước hết, cần khẳng định tính cần thiết của cách tiếp cận mang tính thực dụng như một đặc tính tuyệt đối tối thượng trong lý thuyết trùng hợp ngẫu nhiên của sự phát triển. Khi đó mới dễ dàng hiểu được nhu cầu khái quát không chỉ đa ngành, điều mà ai cũng phải rõ (không có nghĩa là dễ hiểu và dễ áp dụng), mà còn đương đầu với nhiều thuyết khác. Cho tới khi những giải thích và phương thuốc do các thuyết đó đưa ra không mâu thuẫn với nhau – ví dụ, khi gợi ý để hạ thấp và tăng lãi suất hay cho tự do hóa ngoại thương và che chở nó bằng chủ nghĩa bảo hộ tại cùng thời điểm và cùng thời gian – cần kết hợp chúng lại. Ngay cả khi các tín đồ của chủ nghĩa giáo điều quyết tâm chống lại điều đó. Và thật là tuyệt vời là có thể vay mượn những luận cứ phong phú của kinh tế học trọng cung và kết hợp chúng với những luận cứ thích hợp của kinh tế học trọng cầu của trường phái tân Keynes, điều mà chúng ta đã làm được ở Ba Lan trong khi thực hiện “Chiến lược dành cho Ba Lan”, nhưng đáng tiếc, không phải trong lúc giảm nhiệt nền kinh tế trong những năm tới dựa trên khái lược tiền tệ. Nhiều quốc gia khác làm tốt hơn, bởi vì họ tiến hành trong thời gian dài, như Trung Quốc hay Malaysia tại châu Á hoặc Chile và gần đây Brazil ở Nam Mỹ.

Ở đây tôi có thể nói thêm rằng, khi tìm kiếm chiến lược phát triển kinh tế đúng đắn, phù hợp nhất với những thực tế tại Ba Lan thời chuyển đổi của những năm 90 – ngoài việc dựa trên những luận cứ đúng đắn của kinh tế học tân cổ điển và tân Keynes – tôi còn khai thác những kinh nghiệm thực tế rút ra được từ những quốc gia xa xôi, nhưng gần gũi về thời gian. Thứ nhất, nghiên cứu những kinh nghiệm không thành công của những quốc gia tại Nam Mỹ cải tổ cơ cấu và áp dụng chính sách ổn định theo “Đồng thuận Washington” là vô cùng hữu ích. Thứ hai, có thể rút ra được vô số những kinh nghiệm tốt từ những nền kinh tế đang phát triển nhanh tại Đông Nam Á, đặc biệt về vai trò của nhà nước trong xây dựng thể chế kinh tế thị trường và nhà nước áp dụng chính sách công nghiệp và thương mại.

Chủ nghĩa thực dụng là cần thiết. Chủ nghĩa thực dụng vĩ đại. Phải làm sao để ít ý thức hệ nhất và nhiều chủ nghĩa thực dụng nhất. Có thể mạnh dạn khẳng định nó như là chủ nghĩa thực dụng mới, bởi nó dựa trên cách tiếp cận mới xuất phát từ những khái niệm mang tính phân tích và lý luận được trình bày tại đây. Là mới cũng bởi lẽ rằng, nó để tâm một cách đồng bộ tới những điều kiện mới, đã khác so với thế kỷ trước về làm ăn kinh tế do tác động của quá trình toàn cầu hóa. Lý thuyết trùng hợp ngẫu nhiên của sự phát triển khi được phát triển một cách thích hợp, một mặt – tiếp cận một cách cụ thể tới từng thể loại thách thức trong quá trình phát triển; mặt khác – tạo ra kết cấu vững chắc cho các giải pháp mang tính thực dụng hướng tới xử lý những vấn đề cụ thể. Tân chủ nghĩa thực dụng có tính chất logic đối với lý thuyết này. Nhưng đấy là một cái gì đó nhiều hơn nữa. Ở đây muốn đề cập tới bản chất phương pháp hoạch định chiến lược phát triển, tới phương pháp hoạch định chính sách kinh tế.

Tân chủ nghĩa thực dụng là kết quả logic của đường hướng phương pháp tư duy, rằng cũng cần phải có cách tiếp cận mới đối với thuyết can thiệp của nhà nước. Cách tiếp cận không thể dựa trên cơ sở can thiệp vào quá trình sản xuất, mà phải dẫn tới việc xử lý một cách hợp lý những tình huống kinh tế đã được nhận biết. Từ đó tôi cũng không bóc tách chủ nghĩa can thiệp mới như một đặc điểm riêng rẽ, bởi nó phải đột phá trực diện và dựa vào 8 đặc điểm đã nêu ở phần trên.

Cũng chưa đủ khi chỉ quan tâm tới sự cân bằng vĩ mô, một nền ngân sách khả dĩ cân đối, lạm phát thấp và đồng tiền ổn định. Cả những nỗ lực để thu hút nguồn vốn trong xã hội và tình trạng cơ sở hạ tầng (kể cả môi trường thiên nhiên) cũng chưa đủ. Ngoài ra, nhà nước phải tham gia một cách khéo léo vào điều tiết học động của các chủ thể kinh tế. Cũng nhằm hạn chế những xung đột không thể tránh được giữa các doanh nghiệp trong cuộc chơi kinh tế đang diễn ra, tốt nhất – là xây dựng một khuôn khổ luật pháp phù hợp để phòng tránh xảy ra những xung đột này. Do đó, tân chủ nghĩa thực dụng đòi hỏi chủ nghĩa can thiệp mới, với những mục tiêu khác cũng như những phương tiện khác so với chủ nghĩa can thiệp truyền thống bắt nguồn từ chủ nghĩa Keynes ra đời sau cuộc đại khủng hoảng vào những năm 1929 – 33.

Tân chủ nghĩa thực dụng không mong chờ những đều cấm kỵ mang tính ý thức hệ và không sợ những sai trái về chính sách. Khi chính sách quá trông cậy vào những điều đó thì thời dành cho công cuộc cổ phần hóa được chứng minh bằng tính hợp lý ở tầm vi mô là rất tồi tệ, bởi vì nó bị thuyết chủ nghĩa nhà nước và chủ nghĩa dân túy kìm hãm. Khi chính sách chọn thuyết tân tự do đòi hỏi phải “giảm vai trò nhà nước” và bằng biện pháp gây tổn hại tới chất lượng nguồn vốn xã hội rất cần thiết cho quá trình phát triển cân đối, thì một số khoản chỉ dành cho dân sinh trong ngân sách nhà nước bị cắt giảm. Khi chính sách bị chi phối bởi khẩu hiệu của chủ nghĩa quốc gia về “chủ nghĩa yêu nước mang tính kinh tế”, thì cánh cửa dành cho chủ nghĩa bảo hộ chống lại sự tăng trưởng sẽ rộng mở. Tân chủ nghĩa thực dụng không thể kết trái trong những cuộc tọa đàm vô bổ về so bì tính ưu việt màu lông của con mèo này với màu lông của con mèo kia, mà chỉ có tự nó bắt chuột. Mà chuột thì không thiếu, cũng không thiếu hàng núi những vấn đề lớn và những vấn đề nhỏ để xử lý.

Trong thời đại ngày nay, những vấn đề như thế cũng rất nhiều. Các nhà kinh tế dễ dàng mở những cuộc tranh luận với nhau xem những vấn đề đó đang nằm ở đâu nhiều nhất. Họ thường xuyên nhìn thấy những vấn đề này nhiều nhất ở bản thân mình, khi họ luôn có xu hướng không đánh giá hết những thành tựu của chính đất nước mình và cũng không thấy được những khó khăn xuất hiện tại quê hương mình, đồng thời lại đánh giá quá cao những thành tựu ở các nước khác và coi thường những vấn đề ở các nước đó. Những vấn đề ở Sad là hoàn toàn khác, ở Na Uy cũng khác hơn; những vấn đề ở Canada hoàn toàn khác so với ở Ai Cập; rất ít sự giống nhau ở Erytrei và Bồ Đào Nha; Hungary đang đối mặt những rào cản tăng trưởng rất khác so với Gruzia; ở Pháp lại nói về những điều rất khác, còn ở Mỹ thì lại khác nữa. Nếu không nhận thấy điều đó, rất dễ cử các chuyên gia đến nhầm địa chỉ. Đây là điều rất không nên đối với bưu điện và người đưa thư chứ đừng nói gì đến chuyện đối với khoa học về kinh tế.

Đúng thế, nhưng ai cũng biết rằng, khoa học đâu có gửi đi các cố vấn, chỉ có chính sách được chỉ đạo không bởi lý thuyết mà bởi những lợi ích, và kinh doanh thì chỉ được chỉ đạo bởi các lợi ích. Cả những hoạt động kinh doanh ở vùng giáp ranh với những nền tài chính có tổ chức và những nhóm tội phạm có tổ chức. Thật là đáng sợ, khi vào đầu những năm 90, một số sứ giả phương Tây đã nhầm lẫn giữa Budapest với Bucarest hoặc giữa Litva và Latvia, nhưng họ không hề nhầm lẫn những điều mà họ muốn. Hiện nay, vẫn còn nhiều người nhầm lẫn giữa Baltov với Balkan, người Thổ với người Arập, còn Đông Dương với Ấn Độ và Trung Quốc.

Còn nói một cách hoàn toàn nghiêm túc, thì để hiểu được bản chất của vấn đề, cần tiếp cận một cách thực dụng và cụ thể. Tốt nhất là đầu tiên hãy làm cho vấn đề rối tung lên để có thể nắm bắt được nhiều vấn đề nhất từ cái mớ rối rắm đó và sau đó hãy đề xuất một điều gì đó có ý nghĩa. Không thể dựa trên sự đơn giản hóa để hiểu và giải thích lý thuyết trùng hợp ngẫu nhiên. Thuyết này đòi hỏi luôn luôn nghiên cứu toàn diện và kỹ lưỡng các tình huống khác nhau và việc sử dụng nhiều công cụ khác nhau. Khi nhìn vào tưởng như cùng một thứ, đôi khi lại nhìn thấy một cái gì đó hơi khác hơn. Khi chúng ta tìm kiếm cùng một thứ, đôi khi chúng ta lại nhận được một cái gì đó khác. Vật chất khác, kích thước khác, lời giải đáp khác thì sẽ không có những dự báo giống nhau.

Hoàn toàn khác khi tiếp cận với vấn đề cổ phần hóa tại một nước có tình trạng quốc hữu hóa toàn diện như Tiệp Khắc cũ so với nước phát triển cao như ở Anh. Cũng hoàn toàn khác khi tiến hành cổ phần hóa các ngân hàng tại Bulgaria, nơi mà 100% ngân hàng nằm trong tay nhà nước, một cách khác tại Peru – nơi thành phần kinh tế tư nhân và nhà nước cùng tồn tại. Do có sự khác nhau về yếu tố văn hóa và điều kiện tự nhiên, cần phải xử lý vấn đề công nghiệp hóa ở Mauritania khác với ở Nicaragua.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Grzegorz W. Kolodko – Thế giới đi về đâu? – NXB TG 2010.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s