Martin Ríesenbordt – người Đức, một nhà tôn giáo học hiểu theo nghĩa truyền thống và là người kế tục trung thành Marx Weber. Cuốn “Sự thờ cúng và sự hứa hẹn tôn giáo” của ông ta, là nhằm khai mào cho cuộc luận chiến chống sự chỉ trích hậu hiện đại ngay chính khái niệm “tôn giáo” (cũng như “văn hóa” và các khái niệm khác nữa). Ríesenbordt không nghi ngờ gì về việc thuật ngữ “tôn giáo”, ngay dù nếu nó có được sáng chế ra vào một thời gian xác định và trong một bối cảnh trí tuệ và xã hội xác định đi nữa thì đúng là thuật ngữ này là hoàn toàn cần thiết, dễ hiểu và không cần phải định nghĩa: tôn giáo được định nghĩa từ bên trong bởi chính những người truyền bá nó. Nói cho đúng thì hiểu được tôn giáo cần phải có sự hệ thống hóa các loại hình “tự ý thức” tôn giáo, các quan điểm nhìn từ trong ra (insider’s perspectives) khác nhau đó. Sự tự ý thức này được Ríesenbordt, theo “cách tiếp cận performative” làm rõ thông qua việc phân tích nghi thức, chọn nghi lễ phụng vụ của Kitô giáo như là kiểu nghi thức lý tưởng hiểu theo nghĩa của Weber. Ý nghĩa chủ yếu của hành động tôn giáo, như có thể thấy qua tên sách, – là sự hứa hẹn cứu rỗi (cũng hoàn toàn theo cách kiến giải của Weber). Đồng thời, tác giả bài viết về Ríesenbordt là Michel Stausberg cho rằng khái niệm trung tâm (“cứu rỗi”) của Ríesenbordt là chưa được xác định rõ. Đáng chú ý là các phân tích của tác giả này là xem tôn giáo như là một thiết bị “địa chấn ký” ghi nhận các chuyển biến, dao động xã hội và đặc biệt là các giải thích của ông ta về cao trào tôn giáo vào cuối thế kỷ XX.

Stausberg, người biên soạn tập sách dường như đã buộc phải trách cứ Ríesenbordt là đã không chú ý đến các lý thuyết nhận thức và tiến hóa là những cách tiếp cận rõ ràng đang chiếm ưu thế; theo quan điểm của tôi, trách như thế cũng vô ích. Mà nếu đúng là các trừu xuất lý thuyết của Ríesenbordt phần nào chỉ có tính chất thứ yếu và các nhà lý thuyết thế hệ mới cũng không có gì mới mẻ cho lắm thì họ vẫn đứng được trên căn bản kinh nghiệm và phạm trù vững chắc, tuyệt nhiên không nhất thiết phải chia tay với cái căn bản ấy.

Phải chăng cái gì tự nhiên đều là tốt? Lập trường đánh giá của các nhà lý thuyết

Khi chúng ta nói, vẫn theo Michel Stausberg, rằng với phần đông các nhà lý thuyết thì tôn giáo là một hiện tượng “tự nhiên”, “bản nhiên” (natural), chúng ta trước hết nghĩ về ý nghĩa có tính quyết định của cái tự nhiên trong việc giải thích tôn giáo, cũng như nghĩ về các khoa học tự nhiên là nguồn sức mạnh khích lệ các cách tiếp cận này. Nhưng chúng ta không thể – một cách vô tình – không chú ý đến một nghĩa phụ ngầm của từ “tự nhiên”: nói lên tính tích cực nhất định của nó. Tôn giáo là một hiện tượng tự nhiên tính; có nghĩa là nó có quy luật tính; có nghĩa nó là cái cần có; nghĩa là nó hữu ích hay thậm chí là không thể thiếu (?).

Trong lời bạt ở cuối sách, Stausberg đã dừng lại để nói kỹ về nghị trình có tính chuẩn tắc và thậm chí có tính chất hệ tư tưởng của các lý thuyết đương đại. Ông ta cho rằng các nhà lý thuyết thường có xu hướng thiên về những xét đoán đánh giá thẳng thừng hoặc nhẹ nhàng về tôn giáo. Trong số các nhà lý thuyết được giới thiệu trong cuốn sách này, Richard Dawkins (Những ảo tượng của Chúa Trời “God Delusion”) và Daniel Dennet (tác giả cuốn “Đánh tan bùa mê thuốc lú” (Breaking the Spell)) đều đã không che giấu lập trường chống tôn giáo của mình; Walter Becker, cũng là do tính đặc thù cách tiếp cận của ông ta – phân tích cái bạo lực trong nghi thức và nỗi sợ hãi trong tôn giáo – thì mang tâm trạng ngờ vực – đề phòng.

Tuy nhiên, đúng như người biên soạn tập sách đã nhận xét, trong phần lớn các trường hợp, thái độ của các nhà lý thuyết đối với tôn giáo hoặc là trung lập, hoặc thậm chí là tích cực. Có thể điều này liên quan đến tập hợp các xu hướng “hậu thế tục”, với tâm lý bảo thủ trong tôn giáo và, điều không phải là không quan trọng, là liên quan đến tình trạng hệ hình chuẩn thức học thuật của xu hướng thế tục hóa đã phần nào bị cùn mòn.

Dù sao chăng nữa, những người đã sáng chế ra kịch bản tôn giáo học lý thuyết lựa chọn duy lý Stark và Finke, như đã nói ở trên cũng đã công khai đối lập công trình của mình với tư tưởng thế tục hóa. Như Alles, tác giả bài viết về Stark và Finke, đã nhận xét, hai nhà khoa học này đã đề xuất được không chỉ một cách tiếp cận thuần chất Mỹ, mà còn mang tính chất “rất Reagan” dựa trên hệ tư tưởng của thị trường tự do và “ca ngợi chiến thắng (phúc âm/evangelistic) của Kitô giáo”, không chỉ tôn vinh Đức Chúa Trời như là một thực tế đã được chứng minh về mặt khoa học, mà còn làm cho Kitô giáo trở thành cái chịu trách nhiệm về sụ phát triển của khoa học và công nghệ hiện đại và thành tựu của “phương Tây”” (p83). Một thí dụ khác – đó là Roy Rappaport: trong phần cuối cuốn “Nghi thức và tôn giáo vào buổi đầu xuất hiện loài người”, theo ý kiến của Robert Segal, ông ta đã vượt qua đường phân ranh giữa khoa học và thần học và khi phản bác ý kiến phê bình chống tôn giáo, định chứng minh rằng tôn giáo ngay cả trong thế kỷ XXI vẫn cần phải đóng vai trò trung tâm trong đời sống con người (p77). Andriu Newberg cùng với các đồng tác giả cho rằng sự tồn tại của hiện thực tối thượng tuyệt đối là cái ít nhất cũng là khả dĩ hợp lý không kém gì sự tồn tại của thế giới thuần túy vật chất (p287). David Wilson trong phần cuối cuốn sách của mình cũng bộc lộ những suy tư của mình về tương lai của loài người, nói về lập trường lạc quan của mình dựa trên những thí dụ về niềm tin sâu sắc và sự tôn kính tôn giáo trước các biểu trưng mà ông đã chứng kiến ở người Nue (một bộ lạc ở Đông Phi) và nông dân đảo Bali; ông thậm chí còn có những phát biểu theo tinh thần mong khoa học và tôn giáo ngày càng xích lại gần nhau hơn. Theo quan điểm của Loyal Ryu, đối lập hoàn toàn với Dawkins thì tôn giáo là yếu tố cực kỳ quan trọng đối với sự sống còn và cuộc sống hạnh phúc của con người với tính cách là một loài sinh vật (p 224, 288).

Ngoài các tác giả mà theo một nghĩa nào đó, có thể gọi là không có thành kiến về tôn giáo trên đây (cũng nhân đây xin nói là chúng tôi không thể biết gì về thành phần tôn giáo của cá nhân họ), số còn lại đều là những người giữ thái độ trung lập. Pascal Byoer và Ilkka Pyusiaynen, như ta còn nhớ, vốn coi tôn giáo là “sản phẩm không có chủ định trước các chức năng não bộ” hoặc, như Boyer thường nhắc khi trích dẫn câu của W. Shakeaspeare, “trống như không”; y hệt ý của Atran, như ta còn nhớ, coi tôn giáo là một thứ “sản phẩm phụ” của các hệ thống mà trong quá trình tiến hóa vốn trù liệu vào những mục đích khác.

Các nhà lý thuyết xa lạ với cách tiếp cận nhận thức vẫn đang cố gắng giữ lập trường trung lập khi đánh giá và nhìn nhận sự tồn tại của tôn giáo như là một hiện thực tất yếu, không tránh khỏi (hiểu theo nghĩa này thì đó cũng là “tự nhiên”). Với Lhumann thì tôn giáo là một trong những tiểu hệ thống của một xã hội phân hóa, hiện địa. Đối với Ríesenbordt, người theo phương pháp luận của Weber thì tôn giáo là cái có tính phổ quát và dựa trên những “ý nghĩa” hoàn toàn xác định, có tính đặc thù; ở đây, tác giả này còn đi xa hơn và thấy ở tôn giáo như một “sự hứa hẹn” cần thiết (là giải pháp cho các vấn đề và xét cho cùng, là sự cứu rỗi) thực tế là đã bỏ qua tư tưởng “tính mâu thuẫn nước đôi” của tôn giáo. Phải nói rằng cá nhân tôi cũng thấy rằng cái tư tưởng hiện đang khá phổ biến này xem ra là có hiệu quả nhất (và nhân đây phải nói luôn là nó có tác dụng gạt bỏ hoặc không thì cũng bớt đi những lúng túng khi đánh giá), lại hiếm khi nghe chính các nhà lý thuyết cũng như giới phê phán họ nói đến.

Người dịch: Phụng Sơn Ngô

Nguồn: TN 2015 – 15 & 16, 17

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s