Chi tiết của vấn đề

Tuy nhiên, chính cuộc khủng hoảng về nhập cư đe dọa gây ra sự chấm dứt của liên minh. Việc đi lại tự do của người dân bên trong thị trường chung từng là một vấn đề chính trị nhỏ. Phần lớn mọi người coi đó như một cơ hội cho thanh niên học tập ở nước ngoài thông qua các chương trình Erasmus và Socrates của EU và cho triển vọng được giáo dục và tiến xa để có kinh nghiệm làm việc ở một quốc gia châu Âu khác. Cho đến những năm đầu của thế kỷ này, sự di trú toàn châu Âu vẫn rất thấp.

Nhưng khi EU mở rộng tư cách thành viên họ vào năm 2004 để bao gồm những nước cộng sản trước đây của Trung và Đông Âu, sự di trú bên trong EU bắt đầu tăng. Sự mở rộng EU sang phía Đông tạo ra “một châu Âu toàn vẹn và tự do”, như Tổng thống Mỹ George H.W. Bush phát biểu vào năm 1989, nhưng nó cũng khiến tư cách thành viên của liên minh bất bình đẳng hơn nhiều về mặt kinh tế. Vào năm 2004, khi Ba Lan gia nhập EU, GDP bình quân đầu người đứng ở khoảng 6600 USD; ở Vương quốc Anh, con số là 38.300 USD. Những khác biệt to lớn trong mức độ thu nhập này khuyến khích hàng triệu người châu Âu phía Đông tiến về hướng Tây. Chẳng hạn, từ năm 2004 đến 2014, trên 2 triệu người chuyển từ Ba Lan sang Đức và Vương quốc Anh, và gần 2 triệu người khác chuyển từ Romania sang Italy và Tây Ban Nha. Những sự di chuyển lớn này của người dân đặt áp lực lên các dịch vụ công và những mạng lưới an toàn của các quốc gia tiếp nhận họ.

Rồi, vào năm 2015, hơn 1 triệu người di cư và tị nạn từ Afghanistan, Iraq, Syria và châu Phi hạ Sahara đổ vào khắp các biên giới của châu Âu. Thị trường chung không có cơ chế nào để đối phó với sự di chuyển đột ngột của người dân bên trong nó, EU cũng không có bất kỳ chính sách di cư từ bên ngoài chung nào để giúp tiếp nhận dòng người tị nạn lớn. Các chính phủ quốc gia, bị kiềm chế bởi những quy định của EU đối với chi tiêu tài khóa và không thể nhất trí về cách thức chia sẻ gánh nặng, đã vật lộn để phản ứng lại. Đúng là, con số di cư toàn bộ vẫn tương đối thấp, và đóng góp thực của người di cư toàn bộ vẫn tương đối thấp, và đóng góp thực của người di cư vào nước chủ nhà chủ yếu là tích cực. Nhưng nhiều công dân cảm thấy rằng chính phủ của riêng họ bất lực và EU không thể đại diện cho những lợi ích của họ, và do đó các đảng chống nhập cư đã dâng lên khắp châu Âu. Lần đầu tiên, cam kết của EU với việc tự do đi lại của người dân bắt đầu lung lay. Các chính phủ châu Âu phía Đông, như của Victor Orban ở Hungary và Beata Szydlo ở Ba Lan, bảo vệ mạnh mẽ những quyền lợi được sống và làm việc trên khắp EU cho công dân của họ trong khi từ chối yêu cầu tiếp nhận hạn ngạch người tị nạn của EU. Nhiều chính phủ châu Âu phía Tây sẵn sàng chấp nhận một cách bực bội những hạn ngạch của EU về người tị nạn nhưng ngày càng nghi ngờ bản chất không giới hạn của di trú bên trong EU. Những nỗi sợ hãi của việc di cư không giới hạn từ các nước như Thổ Nhĩ Kỳ, một ứng cử viên cho tư cách thành viên của EU, đóng một vai trò chính trong quyết định rời EU của Vương quốc Anh, và khao khát giành lại sự kiểm soát đối với nhập cư vào Vương quốc Anh sẽ có khả năng gây ra việc hoàn toàn ra khỏi thị trường chung của quốc gia này.

Lấy lại sự kiểm soát

Vậy từ đây EU sẽ đi về đâu? Bởi vì Vương quốc Anh luôn luôn là một nước thành viên miễn cưỡng nhất của EU, nhiều người ủng hộ EU sẽ bị lôi kéo để lập luận rằng giờ đây Brussels cuối cùng có thể thúc đẩy sự hợp nhất hơn nữa. Nhưng đó sẽ là một sự hiểu sai về trạng thái hiện tại ở các thủ đô của châu Âu và một sự chẩn đoán sai về sự ốm đau của châu Âu. Châu Âu nhiều hơn không phải là câu trả lời cho những vấn đề của EU.

Thay vào đó, các nhà lãnh đạo châu Âu cần trở lại ý tưởng cơ bản của Milward rằng châu Âu không phải để giam giữ những nhà nước – dân tộc của nó mà để giải thoát họ. Tính hợp pháp dân chủ, dù tốt hơn hay xấu đi, vẫn ở lại với những chính phủ quốc gia của châu Âu. Không có giải pháp kỹ trị cho những vấn đề chính trị của châu Âu. Nhà sử học Tony Judt nhận xét vào năm 1996, “Tôi không mong muốn đề xuất rằng có điều gì vốn đã ưu thế hơn về những thể chế quốc gia so với những cái khác. Nhưng chúng ta nên thừa nhận hiện thực của các dân tộc và nhà nước, và lưu ý nguy cơ rằng, khi bị bỏ mặc, chúng trở thành một nguồn lực cử tri của những người theo chủ nghĩa dân tộc hiểm độc”. Sự hợp nhất châu Âu lấy đi quá nhiều đòn bẩy chính sách khỏi các chính phủ đến nỗi nhiều công dân bắt đầu tự hỏi chính phủ của họ vẫn ở đó để làm gì. Như nhà kinh tế học chính trị Mark Blyth và tôi lập luận trong Tương lai của đồng euro, “Nếu không phát triển một tiến trình chính trị để gắn vào một cách hợp pháp những thể chế kinh tế và tài chính [của Khu vực đồng euro], tương lai của đồng euro giỏi lắm cũng chỉ là mong manh”. Việc phục hồi tăng trưởng trong Khu vực đồng euro, chống lại nạn thất nghiệp của thanh niên, và bảo vệ những cải cách chính trị của EU mà trả lại một số quyền lực kinh tế cho các nước thành viên nên ưu tiên hơn so với chính sách thắt lưng buộc bụng và những cải cách cấu trúc một kích cỡ vừa cho tất cả.

Những chính sách phân phối mà tạo ra những người thắng và những kẻ thua cần được hợp pháp hóa một cách dân chủ thông qua những cuộc bầu cử đều đặn và do đó vẫn là lĩnh vực dành riêng duy nhất của các chính phủ quốc gia. Những chính sách như vậy bao gồm việc đặt ra những ưu tiên ngân sách, quyết định sự hào phóng của nhà nước phúc lợi, điều tiết các thị trường lao động, kiểm soát nhập cư, và chỉ đạo chính sách công nghiệp. Cho phép các quốc gia thỉnh thoảng phá bỏ những quy định của cả thị trường chung lẫn đồng tiền chung – chẳng hạn, bằng việc tạm thời cho phép họ bảo vệ và hỗ trợ về mặt tài chính những ngành công nghiệp chủ chốt, hoặc đưa ra một lệnh dừng khẩn cấp đối với nhập cư dưới những điều kiện nghiêm ngặt cụ thể – sẽ trao quyền cho những giới tinh hoa quốc gia đối phó với những vấn đề quốc gia cụ thể và đáp ứng những quan ngại hợp pháp của các cử tri bằng cách cho họ một sự lựa chọn dân chủ đối với chính sách.

Trong khi đó, EU nên tập trung vào những thứ mà các nước thành viên không thể thực hiện có hiệu quả một mình và những thứ tạo ra những thành quả chung: đàm phán những thỏa thuận thương mại quốc tế, giám sát một cách có hệ thống những ngân hàng quan trọng và các thể chế tài chính khác, đối phó với hiện tượng nóng lên toàn cầu và phối hợp chính sách đối ngoại và an ninh. Ở các cuộc thăm dò của Eurobarometer, khoảng 2/3 công dân châu Âu được khảo sát kiên định nói rằng họ ủng hộ một chính sách đối ngoại chung cho EU. Các chính phủ quốc gia có thể bắt đầu với việc góp chung có hiệu quả hơn nhiều những nguồn lực quân sự của họ để tiến hành những nhiệm vụ duy trì hòa bình và nhân đạo ở nước ngoài.

EU không cần thêm bất kỳ quy định nào; họ cần sự lãnh đạo chính trị. Đức phải từ bỏ sự phản đối của nước này với trái phiếu eurobond, hoặc cùng nhau bảo đảm những công cụ nợ Khu vực đồng euro, và bảo hiểm tiền gửi chung, mà sẽ tiến một bước dài đến việc đem lại sự ổn định tài chính dài hạn trong Khu vực đồng euro bằng việc ngăn cản ảnh hưởng xấu của thị trường trái phiếu chính phủ và đột biến rút tiền gửi trong tương lai. Họ phải nới lỏng sự khăng khăng của mình đối với những quy định tài khóa cứng rắn để cho phép những nước như Italy và Bồ Đào Nha tham gia tổng kích cầu. Và họ phải nắm quyền lãnh đạo trong việc thành lập những cơ chế mới để thúc đẩy sự đoàn kết bên trong EU, như là một quỹ người tị nạn và di trú chung, mà có thể bù đắp sự khác biệt trong những thâm hụt tạm thời ở quỹ địa phương và giúp các nước thành viên chai sẻ gánh nặng hòa nhập những người di trú mới trên khắp châu Âu có hiệu quả hơn.

Đức cần dứt khoát nắm lấy vai trò lãnh đạo của họ. Nếu Đức có thể vượt qua chủ nghĩa địa phương của họ và thừa nhận rằng họ có lợi ích dài hạn để hành động như một bá chủ ôn hòa cho châu Âu – không khác gì vai trò Mỹ nắm giữ trong thế giới phương Tây sau Chiến tranh thế giới thứ hai – không có lý do gì EU không thể nổi lên mạnh mẽ hơn từ tình trạng bất ổn hiện tại của nó. Các nhà lãnh đạo của những nước thành viên lớn còn lại khác, đặc biệt là Pháp, Italy, Ba Lan và Tây Ban Nha – phải làm Berlin yên lòng lần nữa rằng họ cam kết cải cách nền kinh tế của họ một khi tăng trưởng trở lại, cam kết đóng góp tích cực cho sự đoàn kết của toàn bộ EU, và tái khẳng định rằng dự án châu Âu nằm trong những lợi ích quốc gia của họ. Nói chung, các nhà lãnh đạo châu Âu cần hình dung lại châu Âu là để làm gì và lấy lại sự kiểm soát đối với tiến trình hợp nhất châu Âu. 60 năm trôi qua từ khi ký kết hiệp ước Rome thành lập cộng đồng châu Âu, hiện nay châu Âu cần một thỏa thuận quan trọng mới hơn bao giờ hết.

Nguồn: Foreign Affairs – số tháng 1 – 2/2017

TLTKĐB – 16/01/2017

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s