Ngoài ra, vào những ngày đầu, Hoa Kỳ với các nguồn lực tài chính hạn chế đã phải sử dụng đến việc cấp đất để đền bù cho một số giới dân cư nhất định. Các sử gia khác nhau đã thấy rằng bằng việc phát hành “chứng khoán đất”, cái được mô tả “tương đương tem phiếu thực phẩm hồi thế kỷ XIX” – loại giấy có thể chuộc lại bằng đất – Chính phủ đã khuyến khích tình trạng vô luật pháp và chiếm đất. Từ năm 1780 đến năm 1848, Quốc hội đã cấp 2 triệu mẫu đất cho những người lính đã chiến đấu trong Cách mạng, 5 triệu mẫu đất cho các cựu chiến bin của chiến tranh 1812, và 13 triệu mẫu đất cho những người đã tham gia chiến tranh Mexico. Giữa năm 1851 và 1860, đã đưa thêm 44 triệu mẫu đất cho những người đã phục vụ trong chiến tranh Cách mạng, chiến tranh 1812, các cuộc chiến tranh với người da đỏ, và trong chiến tranh Mexico – Mỹ. Khi Quốc hội Thuộc địa trong thời gian Chiến tranh giành Độc lập nghĩ ra lần đầu, chính sách chứng khoán đất có lôgích nhất định là cho phép chính phủ Mỹ chi trả cho các sĩ quan và binh lính về sự phục vụ của họ. Quốc hội cũng lo sợ về đe dọa quân sự mà những người bản xứ, hoặc là tự họ hoặc là lính đánh thuê được trả lương của người Anh hoặc người Pháp, gây ra cho nền cộng hòa mới. Mục đích thanh toán cho những người lính trước đây ở biên cương là để giải quyết cả hai vấn đề cùng một lúc.

Tuy nhiên, vào giữa thế kỷ XIX, một thị trường đen phát đạt về chứng khoán đất đã nổi lên, làm nóng cả việc chiếm đất lẫn đầu cơ. Cứ mỗi 100 lính nhận được chứng khoán đất, thì có 84 người lính bán quyền của mình ở thị trường chợ đen – một tình tạng không khác tình trạng xảy ra ngày nay ở nhiều nước đang phát triển và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, những nước cung cấp nhà ở công cho một số nhóm công dân. Như một sử gia diễn ta, “chẳng ai mong muốn nửa triệu bà góa và những người già nhận [chứng khoán đất] nhằm lập thành một hàng rào chống lại sự xâm lăng của nước ngoài”.

Chính phủ liên bang cũng đã cho không hàng triệu mẫu đất cho đường sắt mới đen chéo ngang dọc châu lục. Trong thế kỷ XIX, trên 318 triệu mẫu đất – gần bằng một phần năm toàn bộ đất liên bang – đã được phân phát, hoặc một cách trực tiếp cho các công ty đường sắt tư nhân hoặc cho các bang, sau đó các bang lại phân phát đất cho các công ty đường sắt. Lý do căn bản của việc cho không hàng loạt này là vì nó sẽ thúc đẩy việc định cư có trật tự ở biên giới. Mặc dù phần lớn đất không có mấy giá trị, một phần đáng kể lại có quặng hoặc có thể trồng trọt được. Phần lớn nhất đã cho các đường sắt xuyên châu lục, những người đã nhận xen kẽ một trong hai khu đất dọc theo đường của họ, tạo thành các hình mẫu bàn cờ luân phiên giữa đất của đường sắt và đất của Chính phủ. Quốc hội đã tin rằng các [công ty] đường sắt sẽ bán đất mà họ không cần đến một cách nhanh chóng và rẻ để khuyến khích định cư. Thế mà một lần nữa, thực tế đất định cư lại mâu thuẫn với những hy vọng của các nhà chính trị. Sự sắp xếp kiểu bàn cờ, theo một học giả, “đã làm chậm việc định cư trên hàng triệu mẫu đất tốt nhất và ngăn cản việc mua chúng”. Đôi khi nó thậm chí còn dẫn tới xung đột công khai. Stephen Schwartz tường thuật về xung đột xảy ra năm 1880 ở Thung lũng San Joaquin California, khu được gọi là Mussel Slough, khi các nông dân và những người chăn nuôi, những người ở trên cơ ngơi của đường sắt phản đối thay đổi trong thỏa thuận bán khi đến thời hạn thanh toán. Các công ty đường sắt đã quyết định rằng giá bán phải bao gồm tất cả những chi phí cải tạo như nhà cửa và mương máng. Việc này không chỉ dẫn đến kiện tụng mà tòa án không thể giải quyết được vụ việc, mà còn dẫn đến việc bắn chết năm người định cư và vài người đi xua đuổi, trong đó cảnh sát trưởng chịu trách nhiệm đã thừa nhận rằng ông ta “không [biết] chắc chắn ai là người đã bắn đầu tiên”. Bài xã luận về vụ rắc rối của tờ San Francisco Chronicle đã lên án các công ty đường sắt, tuyên bố rằng “Bất luận các quyền hợp pháp nghiêm túc của họ là gì, không thể chối cãi là tất cả công lý, đều ủng hộ những người định cư”. Sức mạnh vật lý cũng đã ở về phía những người định cư. Các quan chức đã ước lượng để trục xuất họ cần từ 200 đến 1000 lính tinh nhuệ.

Những nỗ lực của chính phủ liên bang để xây dựng một hệ thống đất đai có trật tự đã không thể thắng nổi ý chí của người dân thường muốn khẳng định quyền của họ đối với đất đai quốc gia. Một người chiếm đất có khả năng phát biểu lưu loát đã lập luận: “Tôi xác nhận rằng cả loài người, những người có thể thống nhất với mọi hiến pháp được thiết lập ở Mỹ, đều có một quyền không thể bị nghi ngờ để đi qua mọi quận hạt bị bỏ không và… Quốc hội không được trao quyền để cấm họ”. Trong vài thập kỷ đầu của thế kỷ XIX, các nhà chính trị và những người chiếm đất đã chiến đấu về việc các quyền sở hữu sẽ được chuyển nhượng ra sao. Giữa các nhà chính trị, “đã nổi lên câu hỏi: ‘Phải làm gì với nó?’, ‘Giao cho những người lính’, một số người yêu cầu. ‘Dùng nó để trả nợ quốc gia’, những người khác nói. ‘Giữ nó để sử dụng sau’, còn những người khác thì đã khuyên, và đã có những người cho rằng bất kể ai muốn đều phải có quyền chiếm hữu định cư trên nó”.

Sự hỗn loạn hoặc sự xung đột của hệ thống phát luật

Vào đầu thế kỷ XIX, hệ thống quyền sở hữu của Hoa Kỳ ở trong tình trạng lộn xộn. Luật quyền sở hữu hiện hành và các nhà lập pháp đối kháng chỉ làm nghiêm trọng thêm cuộc khủng hoảng đối với những người nhập cư của quốc gia. Trong nghiên cứu có ảnh hưởng sâu rộng về những người chiếm đất và các luật đất đai ở Virginia và Kentucky, Paul Gates lập luận rằng luật chính thức đã góp phần vào “sự gia tăng liên tục các chi phí tranh tụng để làm sáng tỏ các chứng thư quyền sở hữu, để đuổi những người có yêu sách kình địch, và để bảo vệ đất đai khỏi sự xâm phạm và cướp bóc”. Kết hợp “với án phí và lãi cao của một “mối đe dọa thường xuyên đối với sự an toàn của các khoản đầu tư và để những người đi kiện bị rối ren liên tục”.

Có thể thấy, những người nhập cư đã định cư trên những vùng đất này, thường xuyên không có chứng thư sở hữu chính thức đối với đất đai của mình và thường đi đến kết cục là phải đàm phán về chứng thư quyền sở hữu với không chỉ một mà là hai người chủ; và rồi thậm chí sau khi họ đã mua đất và tiến hành cải thiện, họ vẫn có thể phải đối mặt với các thủ tục bị trục xuất do những người khác đưa ra các quyền trước nữa đối với những dải đất của họ. Một khách nước ngoài đi khắp Kentucky năm 1802 đã nhận xét rằng ở mọi nhà mà ông ta dừng lại, người chủ nhà đã nêu lên sự nghi ngờ về tính đúng đắn của các chứng thư sở hữu của những người hàng xóm của mình.

Giữa năm 1785 và 1890, Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua hơn 500 luật khác nhau để cải cách hệ thống quyền sở hữu, có vẻ như dựa trên cơ sở ý tưởng của Jefferson về việc đưa quyền sở hữu vào chính tay những tư nhân. Các thủ tục phức tạp liên quan đến các luật này, tuy vậy, thường ngăn trở mục tiêu này. Làm cho vấn đề mơ hồ thêm nữa, từng bang lại phát triển các quy tắc về quyền sở hữu, về phân chia đất chủ yếu có lợi và bảo vệ chỉ cho tầng lớp ưu tú giàu có của riêng bang mình. Kết quả là, những nỗ lực cải cách hệ thống quyền sở hữu chỉ làm tăng thêm những khó khăn về đất đai của quốc gia, trong khi làm cho những người nhập cư cực kỳ lo ngại về nguy cơ mất cái giống như chứng thư quyền sở hữu mà họ đã có thể có. Bình luận về cải cách ở Kentucky, một người đương thời đã nhấn mạnh rằng “nhiều người cư trú tìm thấy nguồn gốc về sự an toàn cho cơ ngơi của họ từ sự mơ hồ này… [và như thế] nhiều người đã không dám khẳng định  các quyền của mình, do lo sợ rằng sẽ buộc phải trả các khoản bồi thường đáng kể”. Trong thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, “khi các vấn đề cũ được giải quyết, lại nổi lên các vấn đề mới. Có những khó khăn kinh niên trong việc xác định quyền sở hữu… [khi quyền sở hữu trở thành một] khái niệm mông lung khó nắm bắt hơn là khái niệm kinh tuyến, mơ hồ hơn một gốc cây hoặc một dòng suối. Quyền sở hữu trở thành một chủ đề phiền phức và khó trị như luật chiếm hữu đã bị bãi bỏ”. Các định chế pháp lý của Hoa Kỳ đã hoàn toàn thất bại, một cách căn bản, trong việc giải quyết một cách hiệu quả dân số nhập cư gia tăng.

Vào năm 1820, hệ thống quyền sở hữu ban đầu của Hoa Kỳ ở trong tình trạng lộn xộn đến mức Thẩm phán Tòa án tối cao Joseph Story đã viết: “Có lẽ hàng thế kỷ sẽ trôi qua trước khi những vụ kiện tụng dựa trên [các luật quyền sở hữu của Hoa Kỳ] được đóng lại… Nó sẽ vẫn mãi mãi là đạo luật không được biết đến, giống như luật học ở một số quốc gia nước ngoài”. Sự mỉa mai còn có ở Thẩm phán Story, rằng Hoa Kỳ “không phải là một xã hội già nua bảo thủ mà lại là một quốc gia mới ở ngoài pháp luật”.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Hernando de Soto – Bí ẩn của vốn – NXB CTQG 2016

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s