“Chuỗi vàng” chỉ ra rằng không chỉ cải thiện tính hiệu quả của nền kinh tế, mà điều này được thể hiện qua việc gia tăng năng suất lao động và mức sống dân chúng có thể nhìn thấy rõ trong việc làm gia tăng tiêu dùng và đầu tư cho vốn xã hội từ nguồn ngân sách. Nó cũng khẳng định việc tạo dựng được nền tảng hạ tầng cho sự tăng trưởng kinh tế trong tương lai, điều đó được thể hiện trong việc gia tăng vốn đầu tư và mở rộng thị trường tiêu thị hàng hóa ở nước ngoài thông qua gia tăng kim ngạch xuất khẩu. Ngoài ra, hệ thống này còn đóng góp vào việc cải thiện môi trường hoạt động của các doanh nghiệp nhờ hiệu quả của việc hạn chế quy mô gia tăng thuế khóa, điều này liên quan tới việc giảm bớt phạm vi tái phân phối của ngân sách và với tạo thuận lợi cho sự phát triển của cơ cấu chi tiêu công cộng.

“Chuỗi vàng” là hiện tượng ít gặp trong quá trình phát triển trong thực tế. Thực tế, một hệ thống các tham số kinh tế vĩ mô gần giống có thể xảy ra trong một thời điểm nào đó, đặc biệt trong những chu kỳ hưng thịnh, ở những quốc gia có sự đồng thuận xã hội và nền văn hóa chính trị cao, trước nhất là ở những quốc gia vùng Bắc Âu. Có thể nhận thấy những dấu hiệu của nó ở một số quốc gia đang đưa vào vận hành nền kinh tế thị trường xã hội. Dưới góc độ này, trường hợp của Ba Lan là hiếm gặp, Ba Lan đã thành công trong nhiều năm đi theo con đường “chuỗi vàng”. Trong khi thực hiện “Chiến lược dành cho Ba Lan”, sau những biến động cơ bản của các tham số vĩ mô kinh tế cùng với những cải tổ thể chế tạo thuận lợi cho tăng trưởng, tiến hành vào năm 1994, đã xuất hiện sự tăng tốc cơ bản nhịp độ sản xuất, và những năm 1995 – 97 đã đạt được sự phát triển năng động và cân đối phù hợp với đường cong của “chuỗi vàng”. Vốn đầu tư (19,3) và kim ngạch xuất khẩu (17,0) đã tăng nhanh hơn so với tổng sản phẩm quốc nội (bình quân là 6,8%). Tăng chậm hơn so với tổng sản phẩm quốc nội là mức tiêu dùng cá nhân (6,7) và năng suất lao động (4,7). Tổng thu ngân sách (2,6) và tiêu dùng xã hội (2,7) đã tăng với nhịp độ gần bằng nhau, còn tăng chậm nhất là gia tăng các khoản chi tiêu ngân sách nhà nước (là 1,2%).

Nguyên tắc nhịp độ gia tăng tiêu dùng cá nhân cao hơn năng suất lao động là bắt buộc, khi số nhân công lao động gia tăng. Khi đó việc gia tăng tiêu dùng tính trên đầu người từ thu nhập cá nhân một phần là hàm số gia tăng chi tiêu xuất phát từ khoản gia tăng thu nhập của các hộ gia đình từ việc có việc làm. Sở dĩ như vậy là vì khi một người thất nghiệp tìm được việc làm có thu nhập hoặc một thành viên trong gia đình chưa đi làm nay nhận được việc làm. Trong những bối cảnh khác, thì nguyên tắc nhịp độ gia tăng năng suất lao động cao hơn tiêu dùng cá nhân là bắt buộc. Trong khi bốn năm 1994 – 97 nhân công lao động tăng 6,4% thì trong những năm 1995 – 97 tăng bình quân hàng năm là 2,3%. Điều này oàn toàn làm sáng tỏ hiện trạng nhịp độ cao hơn của tiêu dùng của những gia đình có thêm nguồn thu nhập (dưới dạng tiền giấy và dưới dạng hiện vật) so với năng suất lao động. Trong những trường hợp nhân công lao động ở mức tương đối ổn định thì tình hình sẽ diễn ra ngược lại.

Sự phát triển luôn cần cho mình một chất xúc tác khẳng định sự tồn tại của thực thể tới hạn cần thiết để đẩy sự việc đi theo đúng hướng. Một “viên đá có phép mầu” nào đó không phải là nó – như các thuyết đơn giản hóa thực tế mong muốn. Từ nhiều thế kỷ các nhà hóa học đã tìm kiếm nó một cách vô vọng cũng như nhiều nhà kinh tế học đã ứng xử một cách vô hiệu quả, mặc dù, không phải từ bản chất, tính hiệu quả là không thích hợp đối với họ. Nếu dừng lại một chút với phép ẩn dụ về “viên đá có phép mầu của tăng trưởng kinh tế”, thì nó chính là lối tư duy về sự kết hợp mang tính đặc thù đối với những điều kiện khác nhau của những yếu tố khác nhau.

Có một yếu tố nào đó, nhưng cụ thể kết nối toàn bộ quá trình và bổ sung cho tổ hợp những bối cảnh quyết định sự tăng trưởng, có thể có bản chất đa dạng và bắt nguồn từ nhiều quy mô hoặc – nói một cách khác – từ nhiều ngăn đựng công cụ trong công xưởng của chúng ta. Đối với những giai đoạn khác nhau của mức độ phát triển của nền kinh tế, mối tương quan với yếu tố này cũng khác nhau. Thảng hoặc một cơ may có thể xuất hiện, tuy nhiên lịch sử không thừa nhận những trường hợp ngẫu nhiên liên quan đến những vấn đề lớn. Những vấn đề này cần phải được điều khiển.

Ở thời điểm này, chất xúc tác cho quá trình phát triển, kích thích hoặc chỉ giải phóng tiềm năng đang nằm trong nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên và nguồn vật chất khác, cót hể là những cải tổ nhất định về thể chế – ở thời điểm khác lại là những điều chỉnh trong chính sách kinh tế vĩ mô. Điều này có thể đòi hỏi những nỗ lực lớn lao trong việc xây dựng những đặc tính văn hóa cần thiết, cũng như xây dựng những thiên hướng dám đối đầu với nững rủi ro và hoạt động kinh doanh, hoặc chỉ những cải tổ thích hợp trong đào tạo những nhà quản lý doanh nghiệp. Lúc này có thể gia tăng đầu tư cho nghiên cứu và áp dụng, lúc khác lại cần gia tăng chi tiêu ngân sách cho phát triển nhà ở. Đó có thể là giảm thuế, tuy nhiên để bổ sung cho tổ hợp công cụ cũng đòi hỏi giảm lãi suất. Hoặc là giảm mức thuế nhập khẩu, đồng thời khống chế sự phá giá đồng nội tệ bằng các công cụ của chính sách tiền tệ. Phần nào giống như trong y học, khi đối với những ca bệnh khác nhau đòi hỏi phải có nhiều liệu pháp điều trị khác nhau (có thể không nhiều nhưng không giống nhau). Mỗi liệu pháp đòi hỏi sự kết hợp nhiều phương thuốc. Trong nền kinh tế, những gì mà nhiều người vẫn không muốn biết đến, thì các sự chuẩn đoán quá khác nhau, liệu pháp điều trị lại càng phức tạp.

Do vậy, tân chủ nghĩa thực dụng ít ra cũng không xa lánh chủ nghĩa can thiệp. Cũng như trước đây đã từng có thời người ta nhận thức được rằng, việc tách bạch những gì thuộc về Đức chúa trời ra khỏi những gì thuộc về đức vua là cần thiết cho nền hòa bình và phát triển, mặc dù khi đó chưa đề cập đến phát triển, bởi đúng hơn là đề cập tới nền hòa bình trong môi trường bế tắc, giống như hiện nay phải chấp nhận sự can thiệp không thể tránh khỏi. Những gì thuộc về thị trường thì trả về cho thị trường, những gì thuộc về công cộng, chính thể – thì trả cho ai? Bởi hiện nay, sự can thiệp chỉ ở cấp độ một nhà nước là chưa đủ. Là quá ít trong thời đại toàn cầu hóa sâu rộng, bởi cũng cần thiết can thiệp vào việc vận hành những cơ cấu siêu quốc gia và đối với những người tham dự toàn cầu vào cuộc chơi kinh tế.

Mặc dù có nhiều bài học khác nhau về sự can thiệp của nhà nước trong quá khứ, nó vẫn phải được áp dụng trong tương lai. Còn chính xác hơn – chính là vì những bài học khác đó. Bởi lẽ các bài học là khác nhau, kể cả những bài học tích cực. Nếu thể chế của chủ nghĩa can thiệp có trình độ được xây dựng với vị thế của chủ nghĩa thực dụng chứ không phải với vị thế của hệ tư tưởng, nếu chủ nghĩa can thiệp được bắt nguồn từ những lý do kinh tế đúng đắn, chứ không phải chính trị, thì nó sẽ thành công. Chủ nghĩa can thiệp này phải được dựa trên những lập luận đúng đắn của sự trùng hợp ngẫu nhiên của lý thuyết phát triển. Can thiệp vào cơ chế xã hội của nền tái sản xuất kinh tế vĩ mô phải rất chọn lọc và trúng đích. Có chọn lọc, tức là chỉ chọn những thành phần của tổ hợp bối cảnh kích thích sự phát triển, mà tác động tới chúng để sao chúng có thể tự vận hành. Trúng đích, có nghĩa là chính xác, bằng biện pháp chính xác, không có những giải pháp mù quáng hay gây nên những hiệu ứng phụ tiêu cực không kiểm soát được. Trong thực tế vẫn xảy ra những trường hợp, mỗi một công cụ được áp dụng đã đem lại những kết quả không đồng nhất, cả những kết quả không mong muốn. Nghệ thuật xử trí các công cụ của can thiệp nhà nước, vùng miền và thế giới dựa trên cơ sở làm thế nào để kích động được những hiện tượng và quá trình mong muốn, nhưng cũng tránh được những hậu quả không mong muốn, nếu như không thể tránh được, thì chí ít cũng giảm thiểu được chúng.

Tân chủ nghĩa thực dụng không ngừng hướng về phía trước. Cho dù nó nhận được rất nhiều từ những kinh nghiệm trong quá khứ, nhưng về cơ bản, nó luôn hướng tới tương lai. Trong tiến trình phát triển của lịch sử, ai sẽ là người bứt phá lên phía trước, điều đó được quyết định bởi khả năng biết vượt qua những tiến bộ kỹ thuật được thúc đẩy bởi kinh nghiệm và những phát minh may mắn mà đôi khi chỉ là ngẫu nhiên, để đến với những tiến bộ mang tính hệ thống được khoa học tiếp sức và mang tính tiên iệu là kết quả của những nghiên cứu về lý thuyết. Trong những kỷ nguyên tiếp theo – và đã bắt đầu – vững bước đi lên phía trước không phải là những người, trung thành với quá khứ gần đây (ví dụ một vài quốc gia trong số các nước sau chuyển đổi kinh tế hậu xã hội chủ nghĩa), hay với quá khứ xa xôi (như ở các quốc gia Ảrập), mà là những người biết luận ra hiện tại từ tầm nhìn về tương lai. Tuy nhiên, để đều đó trở thành có thể, trước hết cần có tầm nhìn như thế được xây dựng bằng cơ sở khoa học.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Grzegorz W. Kolodko – Thế giới đi về đâu? – NXB TG 2010.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s