Nhưng những cuộc thi cử quan trường là những công cụ tuyển chọn đáng sợ về văn hóa và học vấn. Những bài thi không nhằm vào những kiến thức kỹ thuật hay hành chính mà vào sự hiểu biết kinh viện gồm những bài tập văn về văn học, về tu từ học Trung Quốc và về thơ cổ. Không hề là một điều bất lợi, kiểu đào tạo tách rời thực tế này đóng một vai trò chủ chốt trong sự xác định của học thuyết: đòi hỏi những người nô bộc tương lai của Nhà nước phải hiểu biết hoàn hảo nền văn hóa cổ điển, vốn rất khó tiếp cận đối với người bình thường, đơn giản cho phép tạo sự nhất trí thực sự về tư tưởng cho một giai cấp lãnh đạo không thể liên kết bằng một cái gì khác. Sự thu nhận một kiến thức chung gắn kết các viên chức của Nhà nước, là những người, suốt trên một đất nước trải dài và rất đa dạng về mặt văn hóa, bỗng chốc chia sẻ cùng những giá trị như nhau và cùng một tập hợp những lời dạy của Khổng Tử.

Như vậy với nguồn gốc nông thôn, chính quyền đã trở thành hợp thức bằng sự nắm vững một kiến thức cổ điển và có tác dụng liên kết, cho phép một tầng lớp thượng lưu luôn gắn bó và luôn luôn ở trong quá trình hình thành. Nói cách khác, “sự thuần khiết của học thuyết” là điều kiện hòa nhập các giai cấp bình dân với các cơ chế của quyền lực.

Tình hình này không tạo ra sự chia rẽ giữa giới thông thái và giới bình dân. Khác với Trung Quốc, các ông quan Việt Nam vào cuối đời đều trở về làng quê chôn rau cắt rốn. Ở đấy, họ giảng dạy văn hóa cổ điển cho những thế hệ trẻ, chuẩn bị cho thế hệ trẻ này dự các kỳ thi tuyển dụng vào chức trách công cộng, và như thế họ duy trì mối liên hệ rất cơ động giữa tầng thấp và tầng cao của xã hội, giữa thế giới đồng ruộng và thế giới của cây bút. Họ cũng góp phần xác định lại cảnh quan hàng ngày của người dân làng: những tấm bia, những ngôi chùa, những con đê, đình làng và đền thờ Khổng Tử đều là những điểm tựa và những điểm tiếp sức của nền văn hóa về cơ bản là hỗn hợp này.

Nền văn hóa đó được củng cố bởi đường lối duy ý chí của Nhà nước tập trung hóa, đặc biệt trong lĩnh vực tín ngưỡng và thực tiễn tôn giáo. Sự thờ cúng của nhân dân (thường có tính vật linh và liên hệ với mùa vụ làm ăn nông nghiệp) bị loại trừ nhường chỗ cho một khu làng danh nhân dân tộc chính thức dành cho các vị tướng lớn chiến thắng quân Trung Quốc, các vị có quyền cao chức trọng và cho các vị thần gắn liền với lịch sử toàn bộ đất nước.

Tổ chức tuyên truyền của Nhà nước đảm bảo cho sự nhất trí, và để thực hiện điều đó, lại coi thường tính đa dạng; tổ chức này xuống đến tận thôn làng.

Nhờ vào sự hình thành một khuôn khổ thực sự ở thôn xã, có thể nói nông thôn Việt Nam đã “Nhà nước hóa” từ bên trong. Còn xa mới đạt đến sự hình thành một giai cấp trí thức tự chủ hoặc cái mà người ta sẽ gọi là một “xã hội dân sự”, độc lập với quyền lực trung ương, ngược lại những hiệu lực liên kết của học thuyết có liên hệ mạnh mẽ với cơ quan Nhà nước. Trong một bối cảnh khác, sự tích chứa quyền lực trung ương này lý giải tại sao về sau, việc tôn thờ những người giải phóng quân và vinh quang của Nhà nước Cộng sản lại được áp đặt một cách dễ dàng đến thế.

Thời kỳ thuộc địa đã cắt đứt mối liên hệ giữa các ý niệm vẫn động theo từng cặp: quả vậy, hơn cả những dao động chính trị và những bạo lực chiến tranh của thế kỷ này, chính là sự biến mất đột nhiên của những cân bằng cũ (hiểu biết/quyền lực, thành thị/nông thôn, thông thái/bình dân) đã tạo nên sự đổ vỡ lớn của cơ chế quyền lực. Những kỳ thi cử bị hủy bỏ, các ông quan bị đặt dưới sự giám hộ, nhà nho bỗng chốc bị thay thế bằng nhà trí thức được đào tạo ở các trường học thuộc địa và bằng chữ viết Latin hóa. Quyền lực chuyển sang tay khác, rời bỏ nông thôn để gắn vào thành thị, giữa guồng máy thuộc địa, trong khi lĩnh vực kiến thức từ nay đứng ở bên rìa chính trị. Khuôn khổ thôn xã trở nên không có hiệu lực. Sự phân chia giữa bộ máy Nhà nước và bộ máy Đảng là một hậu quả của điều đó. Kể từ khi ông Hồ Chí Minh qua đời – mà chỉ có hào quang của ông mới cho phép, trong một thời gian ngắn, kiêm nhiệm chức chủ tịch Đảng, chủ tịch chính phủ và chủ tịch nước Cộng hòa -, các tổ chức chia rẽ làm hai khối riêng biệt. Từ đây Nhà nước và Đảng xuất hiện bên cạnh nhau, từ những cấp cao nhất toàn quốc cho đến thôn bản nhỏ nhất ở miền núi: phía này người ta hành động và phía kia người ta làm sáng tỏ: ở đây thực hành quyền lực và ở kia là học thuyết. Sự cắt đứt mối liên hệ giữa hiểu biết và quyền lực thể hiện qua những thống kê đương thời: khoảng 1/3 cán bộ huyện và chỉ 3,5% cán bộ xã có trình độ đào tạo đại học. Không còn là chuyện Nhà nước nắm lấy những tài năng ở thôn làng mà ngược lại thôn làng vây quanh một quyền lực công cộng không đủ khả năng để tạo thành tầng lớp tinh hoa nhằm đảm bảo công việc của mình.

Tám trong số mười việc làm ở trong khu vực tư nhân

Lần đầu, chính quyền trung ương đã phải trực tiếp xuống thôn xã để áp đặt ảnh hưởng của mình. Trở nên đơn phương, vận động này từ trên xuống dưới chính nó cũng phải mượn một hình thức kép: hình thức của chế độ quan liêu (17.000 cán bộ ở huyện và 220.000 ở xã, so với khoảng 1000 ông quan trước kia) và hình thức của học thuyết (50 Đảng viên mỗi xã).

Sự chia rẽ về tổ chức, sự phân đôi và lực lượng, sự đổ vỡ của những gì trước kia là hòa hợp: đó là một sự đoạn tuyệt to lớn so với quá khứ. Vậy nhưng người ta có thể thấy đường lối chính trị hiện thời của các nhà lãnh đạo Việt Nam như một mưu toan – bằng những phương tiện khác và trong một bối cảnh khác – để tìm lại những hiệu lực chính trị của khuôn khổ cũ, cái khuôn khổ đã được lịch sử chứng minh tính hiệu quả ghê gớm của nó. Trong chiến lược đó, sự đổi mới học thuyết là điều thiết yếu, và đường lối chính trị phát động từ một năm nay mang dấu hiệu của học thuyết đó, chẳng hạn những sự khuyến khích đối với tình trạng quy thuộc kép: một công bộc hoàn hảo vừa là cán bộ Nhà nước vừa là Đảng viên. Từ nay người Đảng viên này có mặt khắp nơi. Anh ta công khai tham dự vào những công việ lớn trong nước, chẳng hạn cuộc đấu tranh chống tham nhũng (cuộc đấu tranh đồng thời cho phép làm mất tín nhiệm bộ máy Nhà nước) nhưng cũng cả trên vũ đài quốc tế.

Tuy nhiên chính là mặt trận kinh tế đã cho phép Đảng thể hiện những khía cạnh tốt đẹp nhất của mình. Một trong những điều kiện cho sự mở cửa của đất nước, năm 1986, là quyền lực công cộng – chính phủ – có thể vẫn ở trong trung tâm của hệ thống tài chính. Bị đặt trong khuôn khổ của Nhà nước – người quản lý ngân quỹ, đầu tư nước ngoài (1/4 các khoản thu của ngân sách quốc gia) đến thay thế cho viện trợ của Liên Xô và cho kho chứa hàng hóa tiêu dùng của Miền Nam thừa hưởng từ người Mỹ, cả hai đều đang trên đường cạn kiệt.

Nhưng nếu sự phát triển kinh tế thực sự là đang gặp thời, cũng phải nhấn mạnh rằng về phần chiến lược chính trị thì đang thất bại. Đầu tư nước ngoài đã giảm sút 40% (1997 – 1998), tăng trưởng mất đà và nguồn thu từ thuế vẫn còn rất thấp. Nhà nước nghèo đi: những khoản thu của Nhà nước từ 30% xuống 20% tổng sản phẩm quốc nội năm 1997. Tệ hơn nữa, vì hơn một nửa sản xuất công nghiệp và 8/10 việc làm được thực hiện trong khu vực tư nhân, bộ máy Nhà nước đã mất quyền kiểm soát nền kinh tế thực sự.

Sự phê phán còn nhằm vào tính chất của sự phát triển kinh tế. Hệ thống không chính thức (1/3 tổng sản phẩm quốc nội và 1/4 việc làm), vốn có ích vào thời của nó, đã thành một trở ngại cho sự hội nhập khu vực. Từ 1995 VIệt Nam là thành viên của Hiệp hội Đông Nam Á, và năm 1998, Việt Nam lại bắt tay với 20 nước thành viên của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Đông Á và Nam Á.

Năm 2003, các nước khối ASEAN sẽ bắt đầu thực hiện thị trường thuế quan chung, và Việt Nam là nước sẽ phải gia nhập vào đó 3 năm sau, biết rằng mình không thể đối mặt với tình hình: những hàng hóa nhập lậu sẽ đánh hỏng mọi mưu đồ phát triển một nền công nghiệp có tính cạnh tranh. Trong số 24000 xe cộ nhập khẩu năm 1996, thì 1/3 là nhập lậu và, 2 năm sau nhà máy ôtô Mekong đóng cửa, trong khi Ford và BMW đối mặt với những khó khăn nghiêm trọng.

Nền kinh tế kép đã làm cho sản phẩm Việt Nam không cạnh tranh được và sự hội nhập kinh tế trở thành rất nguy hiểm. Vậy nhưng sự gia nhập Đông Nam Á là một yêu cầu chính trị bởi vì nó tạo nên một đối trọng vững chắc trong quan hệ với Trung Quốc, trong khi những “khu vực miễn thuế” của nước này dành cho thương mại tư nhân, tạo nên những bức thành tiến về phía biển Nam. Vấn đề kinh tế động chạm sát sườn đến vấn đề độc lập dân tộc.

Sự lùi bước của quyền lực công cộng và những mối đe dọa khu vực đã cho phép lý giải việc Đảng trở lại nắm lấy mọi công việc. Như thế Đảng đã tự cho mình một vai trò tốt đẹp: sau một thập niên “để mặc” và mềm dẻo tội lỗi, từ nay phải gắn liền lý thuyết với thực tiễn quyền lực để làm lành mạnh những cơ cấu kinh tế và chuẩn bị cho tương lai. Bị bỏ qua quá lâu, học thuyết bỗng chốc trở thành người canh giữa cho nền độc lập dân tộc.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Chí Tình

Nguồn: Philippe Papin, Michel Herland – Le monde de transition. Asiatique – Le Parti contre l’Etat – Libéralisation économique, Autoritarism – politique; Le Monde Diplomatique, 10 Février 2000, p10 – 21.

TN 2000 – 94

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s