Các luật của Hoa Kỳ đã trở nên nặng nề phức tạp đến mức chúng gây trở ngại chính đối với những người định cư muốn bảo đảm các quyền sở hữu của mình và thoát khỏi địa vị “những kẻ chiếm đất”. Họ bị bỏ rơi và chẳng có lựa chọn khả dĩ nào ngoài việc bắt đầu tạo ra những “luật” riêng của mình, đặc biệt là những cái liên quan đến quyền sở hữu, pha trộn luật Anh và các truyền thống pháp lý Mỹ, tự gây dựng với lẽ thông thường của riêng họ. Kết quả là đưa “một bộ các quyền sở hữu bất di bất dịch” vào hai hệ thống pháp lý và kinh tế, một được soạn thành luật lệ đưa vào trong các cuốn sách luật, và hệ thống khác hoạt động trong thực tiễn. Và như thế Hoa Kỳ tự thấy mình có một hệ thống pháp luật đa nguyên trong đó nhiều quyền đối với tài sản và dàn xếp chủ sở hữu được xác định bởi luật ngoài pháp luật.

Các tổ chức chính trị và pháp luật bị kẹt giữa lòng trung thành với luật chính thức và thiện cảm của họ với nhu cầu của những người định cư nhằm tạo ra những dàn xếp riêng tư. Bài phát biểu của Thomas Jefferson đã lột tả được một cách hoàn hảo tính nước đôi mà các nhà chính trị luôn luôn cảm nhận đối với những dàn xếp ngoài pháp luật giữa họ. “[Những dàn xếp này] phong phú đến mức… chẳng có những nguyên tắc được xác lập nào của luật hoặc công lý có thể được áp dụng cho sự quyết định của chúng; nhiều trong số ấy được xây dựng nên các tập quán và thói quen đã hình thành ở quận hạt đó, dựa trên các phương thức chuyển giao riêng biệt đối với bản thân họ, đã đi vào hầu hết mọi quyền sở hữu, nên không thể bị bỏ qua một cách tuyệt đối”.

Những nỗ lực của Bang để nhấc lồng kính đi

Như vậy, các nhà chính trị Mỹ đứng trước 3 sự lựa chọn. Họ có thể tiếp tục cố phá ngang hoặc bỏ qua những quyền ngoài pháp luật, miễn cưỡng đưa ra những nhượng bộ, hoặc trở thành các quán quân của các quyền ngoài pháp luật. Các luật chiếm hữu – công nhận quyền đối với đất dựa trên những cải tạo đã được tiến hành trên nó – phát triển khắp Hoa Kỳ trong 60 năm đầu của thế kỷ XIX gợi ý rằng, các nhà chính trị Mỹ ngày càng đi theo chiều hướng thứ ba. Lịch sử của sự chấp nhận các luật chiếm hữu ở Hoa Kỳ là lịch sử của sự nổi lên những người ngoài pháp luật như một lực lượng chính trị.

Điểm ngoặt diễn ra ở bang mới Kentucky, nơi mà hệ thống quyền sở hữu của nó, giống như nhiều bang khác, ở tình trạng hoàn toàn lộn xộn. Thống đốc bang phàn nàn rằng tổng yêu sách về đất ở bang cộng lãi sẽ lên đến ba lần diện tích bang. Sử gia Paul Gates lập luận rằng điều này là do các nhà chính trị thông qua pháp luật phục vụ cho các cử tri ngoài pháp luật giữa những năm 1797 và 1820. Các biện pháp này đóng góp cho “hai nguyên tắc vĩ đại của công lý trong luật [Mỹ]: Quyền của những người chiếm hữu… đối với những cải thiện của họ và quyền của những người định cư trên đất sở hữu tư nhân, không bị bác bỏ trong bảy năm và trả tiền thuế trên đó, thành một quyền sở hữu vững chắc và rõ ràng đối với đất của họ, bất luận các quyền sở hữu kình địch nào có thể còn tồn tại. Tuy nhiên, tầm quan trọng của luật pháp Kentucky không nằm ở sự đóng góp của nó cho học thuyết luật, mà ở sự phản ánh của nó về quyền lực ngày càng tăng của những người tiên phong. Đáng kể là, áp lực mà những người định cư ngoài pháp luật này ảnh hưởng lên các quan chức được bầu đã đưa chính quyền nhiều bang đến chỗ từ chối quyết định của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đối kháng với số dân cư ngoài pháp luật đông đúc của quốc gia.

Năm 1821, Tòa đã tuyên bố luật chiếm hữu Kentucky là không phù hợp với hiến pháp. Vụ kiện liên quan đến những người thừa kế của đại địa chủ, John Green và Richard Biddle, một kẻ chiếm đất đã định cư trên đất của Green một cách bất hợp pháp. Đất tranh chấp ban đầu thuộc  Virginia nhưng nay đã là một phần của Kentucky. Trong vụ giữa Green và Biddle, Tòa án Tối cao đã phán quyết chống lại luật chiếm hữu Kentucky bằng cách dẫn chiếu đến “các quy tắc quyền sở hữu” được thiết lập dưới những tiền lệ của thông luật Anh.

Quyết định có lợi rõ ràng chỉ cho những người có chứng thư quyền sở hữu hợp pháp đối với đất họ đã chiếm. Theo Tòa án, luật Kentucky “đã hoạt động một cách bất công và độc ác bởi vì người chủ hợp pháp bị buộc phải trả, không chỉ đơn thuần những sự cải thiện thực tế trên đất, không chỉ giá trị gia tăng của nó, mà cả phí tổn mà người chiếm hữu đã phải chịu để tạo ra những cải thiện giả vờ, bất luận chúng đơn thuần là hữu ích hoặc tưởng tượng, và là vấn đề sở thíhc hoặc hoa mỹ chỉ tuân theo tính bất thường và đồng bóng của anh ta”. Sau phiên tòa Green và Biddle, Tòa án Tối cao, và năm 1832, đã tái khẳng định quyết định trước đó của mình, nhấn mạnh rằng các luật chiếm hữu đã tước đoạt “người chủ đất hợp pháp khỏi địa tô và lợi nhuận mà những người chiếm hữu đã nhận được.

Các nhà chính trị, những người đã nuôi dưỡng sự ủng hộ của các cử tri ngoài pháp luật của mình đã sỉ vả Biddle là “gây tai hại nhất” và gây ra “kích động lớn” đối với người dân Kentucky. Tòa án Tối cao có thể đã lãng quên thực tế chính trị – và pháp lý – mới đang hình thành ở miền biên giới đang mở rộng nhanh chóng, nhưng các nhà chính trị miền Tây chỉ cần nhìn ra khỏi cửa sổ của họ để thấy đất nước đã biến chuyển nhanh đến nhường nào. Vào thời ấy, hàng chục ngàn người nhập cư gan dạ đã lê bước về phía tây từ các thuộc địa, vượt qua dãy núi Appalachian để định cư trên những vùng đất hoang màu mỡ trong những thập niên đầu của thế kỷ XIX. Dân số Hoa Kỳ cứ 20 năm lại tăng gấp đôi. Năm 1620, có khoảng gần 5000 người định cư ở toàn bộ Bắc Mỹ thuộc Anh. Năm 1860, dân số Hoa Kỳ đã hơn 30 triệu người. Năm mươi phần trăm dân số Mỹ đã sống ở phía Tây dãy nũi Appalachian.

Những người nhập cư này muốn các tòa án công nhận các quyền của họ đối với đất đia mà họ đã kiếm được. Như vậy, sự phản ứng dữ dội về chính trị và pháp lý đối với quyết định của Tòa án Tối cao trong vụ Green và Biddle ở Kentucky là một thắng lợi to lớn đối với những người ngoài pháp luật, và họ đã nhanh chóng chuyển sang tấn công. Trong tâm trí của nhiều chính trị và các chủ bút của các tờ báo địa phương, thì kẻ bất lương lại là Tòa án Tối cao Hoa Kỳ. Một tờ báo địa phương đã nói về “tư cách xảo trá” của các thẩm phán đã đe dọa “hủy diệt” các quyền của “những người không cư trú và xa lạ”. Richard M. Johnson, một người có thế lực ở Kentucky, đã tuyên bố trong một bài phát biểu trước Thượng viện rằng quyết định [của tòa] “sẽ làm đảo lộn chính sách có cân nhắc [của Kentucky]… và, nếu cứ cố chấp, thì nó sẽ tạo ra những hậu quả rất tai hại trong việc gây ra nhiều tranh chấp về những vấn đề đã được giải quyết từ nhiều năm trước, và làm cho mọi sự tôn trọng điền sản lâm vào tình trạng hết sức hỗn loạn”. Một Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ khác của Kentucky, người thậm chí có ảnh hưởng hơn, ông Henry Clay, một người từ lâu đã chống đối các quyền được tự do mở rộng của người chiếm đất, đã thừa nhận: “Họ xây nhà cửa, trồng cây ăn quả, rào đồng ruộng, canh tác đất, và nuôi dạy con cái. Giữa chừng, làn sóng di cư ập lên họ, và các trang trại do họ cải thiện tăng giá trị, có cầu đối với chúng, họ bán chúng cho những người mới đến với một giá tăng cao, và đi tiếp sang phía tây… Bằng cách này, hàng ngàn và hàng chục ngàn người hàng ngày đang cải thiện hoàn cảnh của mình và làm cho các điều kiện của họ được tốt hơn”. Cả Thống đốc lẫn cơ quan lập pháp Kentucky cũng đã lên tiếng phản đối quyết định của Tòa án Tối cao.

Từ khi thành lập, Tòa án là mục tiêu của các nhà chính trị phê phán thẩm quyền của một nhóm ưu tú các thẩm phán mà chẳng được ai lựa chọn. Nhưng trong một bước ngoặt đặc biệt của các sự kiện, các thẩm phán Kentucky cũng đã từ chối quyết định của Tòa án Tối cao. Trong một vụ tương tự 2 năm sau, một thẩm phán Kentucky đã lưu ý rằng không thể học theo vụ Green và Biddle bởi vì vụ này “đã được quyết định chỉ bởi 3 trên 7 thẩm phán tạo thành Tòa án Tối cao Hoa Kỳ; và do ý kiến không đạt đa số của các thẩm phán nên không thể được coi là đã tạo ra một nguyên tắc hợp hiến”. Năm 1827, một thẩm phán Kentucky khác đã từ chối vụ Biddle, nhấn mạnh rằng luật về những yêu cầu chiếm hữu là hợp hiến trong “quá nhiều trường hợp có thể được dẫn chiếu”.

Tiếp sau việc tranh cãi sôi nổi về vụ Green và Biddle, các nhà chính trị miền Tây và những đảng viên đảng Dân chủ ở khắp Hoa Kỳ bắt đầu nhìn nhận những cử tri chiếm đất với số lượng ngày càng đông này theo một lăng kính khác. Họ đã không còn bị coi là những kẻ tội phạm bẩn thỉu, hớt váng đất đai quốc gia, mà là “những người đi tiên phong cao quý” giúp phát triển đất nước. Tất nhiên, họ cũng là những cử tri tiềm tàng đi bỏ phiếu. Các nhà chính trị có thiện cảm bắt đầu tấn công hệ thống quyền sở hữu. Một nghị sĩ từ Kansas đã nhấn mạnh, “trên khắp bang của ông, những người định cư đã chiếm đất công, tiến hành cải thiện, trả phí, và sau đó bị bắt phải rời khỏi đất mà không có bồi thường bởi các quyết định của Bộ trưởng Bộ nội vụ, vì lý do này hay lý do khác.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Hernando de Soto – Bí ẩn của vốn – NXB CTQG 2016

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s