TỰ DO HÓA KINH TẾ, CHUYÊN CHÍNH CHÍNH TRỊ

Michel Herland

Để mô tả công cuộc tự do hóa kinh tế, người Việt Nam không dịch từ “chuyển đổi” (Transition) sang tiếng nước mình, mà họ thích cụm từ Đổi Mới có nghĩa là “Rénovation”. Những biện pháp được thực hiện kể từ Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam (PVC) thánng 12 năm 1986 và tuần tự được tăng cường trong những năm sau, đã thực sự cho phép một sự chuyển đổi tương đối không đau đớn từ nền kinh tế xã hội chủ nghĩa kế hoạch hóa tới một hình thức kinh tế hỗn hợp được đặc trưng bằng một sự tăng trưởng giữ vững mà không mất cân đối trên quy mô lớn. Tuy nhiên diễn từ phát biểu chính thức vẫn chênh lệch so với hiện thực mới. Không tính đến thực tế, các cuộc cải cách luôn luôn được trình bày năm 1986 như một giai đoạn quá độ tới CNXH. Theo các văn kiện của Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam, những cải cách này phải xác lập “những cơ sở cần thiết để đẩy nhanh công nghiệp hóa XHCN trong giai đoạn tiếp theo”. Mặc dầu giáo điều “bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa” được khẳng định ngay từ ngày thành lập Đảng Cộng sản năm 1930, đã bị từ bỏ, mục tiêu cuối cùng vẫn không thay đổi về nguyên tắc.

Bất chấp những lời nói quanh co về tư tưởng, đường lối chính trị mới được thể hiện bằng toàn bộ những quyết định mà tất cả đều đi theo hướng tự do hóa và mở cửa kinh tế: phục hồi những doanh nghiệp tư nhân cả trong nông nghiệp cũng như trong công nghiệp và thương mại; thu hẹp khu vực công cộng cả ở mức độ số lượng xí nghiệp và số lượng công nhân viên; phi tập trung hóa việc cấp tín dụng nhờ phát triển nhiều gấp bội những tổ chức tín dụng (gồm cả những ngân hàng có vốn nước ngoài); khuyến khích đầu tư trực tiếp của nước ngoài, thiên về để cho họ tham gia vào các liên doanh kết hợp các đối tác Việt Nam và nước ngoài nhằm tạo thuận lợi cho sự chuyển giao công nghệ.

Song song là một hoạt động kinh tế vĩ mô táo bạo đã được tiến hành có kết quả, cho phép ổn định tiền tệ, ngăn chặn lạm phát và giữ cho sự thiếu hụt ngân sách công cộng ở trong những giới hạn chấp nhận được. Để minh họa cho điều đó, ta thấy sản xuất và tiêu thụ điện đã tăng gấp đôi từ 1987 đến 1994, tương ứng với một tỷ lệ tăng trưởng trung bình hàng năm là 10%. Còn tỷ lệ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội thì được duy trì ở mức trên 8% mỗi năm từ 1992 đến cuối 1997. Khả năng của Việt Nam khắc phục được tình hình những thị trường của họ ở Đông Âu hầu như biến mất chắc hẳn là thành tích gây ấn tượng nhất của họ. Theo đánh giá của Bộ Thương mại, phần của những nước có đồng tiền không chuyển đổi được trong kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam chỉ còn chiếm 4% năm 1992 đối với những sản phẩm công nghiệp nhẹ và thủ công nghiệp (so với 100% năm 1988) và 1% đối với những sản phẩm nông nghiệp và lâm nghiệp (so với 30% năm 1988).

Sự định hướng lại những chu trình thương mại, theo lôgích, đã đưa Việt Nam trở thành ứng cử viên của Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á, và chính thức trở thành thành viên thứ 7 của Hiệp hội này vào năm 1995. Ngày nay Hà Nội theo đuổi một chiến lược hội nhập khu vực và mở cửa tương đối ra quốc tế. Họ bắt đầu chủ yếu với các nước láng giềng, kể từ Nhật Bản, và đó cũng là những nước đầu tư chủ yếu vào Việt Nam. Những trao đổi mậu dịch với các nước phương Tây được tăng cường từ sau việc rút quân khỏi Campuchia năm 1989 và việc dỡ bỏ cấm vận của Mỹ năm 1994 (ngày nay Liên minh châu Âu chiếm 15% trao đổi mậu dịch).

Một chu kỳ tăng trưởng

Việc mở cửa kinh tế và chuyển qua nền kinh tế thị trường đã tạo nên một chu kỳ tăng trưởng. Về mặt nông nghiệp, đất nước đã đạt được sự tự túc lương thực và vươn tới hàng thứ ba trong các nước xuất khẩu gạo trên thế giới. Về mặt công nghiệp, với hàng may mặc và một số hoạt động lắp ráp, Việt Nam cũng trở thành một nước xuất khẩu mà từ nay người ta phải tính đến.

Tất nhiên trong sự tiến triển này cũng có một phần là sự bù gỡ lại: hoạt động từ lâu bị cản trở bởi chế độ kinh tế kế hoạch hóa vốn ẩn dấu nhiều tiềm năng cho tăng trưởng, và tất cả được bộc lộ ngay khi không còn sự kìm hãm nữa. Tuy nhiên sự bù gỡ này riêng nó không phải là một lời giải thích đầy đủ: gần như 15 năm qua đã từ ngày phát động Đổi Mới, sự tăng trưởng vẫn tiếp diễn mà không bị ảnh hưởng thái quá vì cuộc khủng hoảng đã dáng xuống những nước láng giềng châu Á của Việt Nam. Ngoài ra sự thiếu hụt trong cán cân thương mại vốn bắt đầu có một quy mô đáng lo ngại, cũng đã giảm xuống vào năm 1997 và 1998. Nếu đường lối Đổi Mới không phải là bắt chước đúng theo những cải cách của Trung Quốc vào cuối những năm 1970 thì những điểm tương tự giữa hai nước cũng đủ để người ta có thể nói đến một phương thức chuyển đổi châu Á. Trong cả hai trường hợp, những cải cách kinh tế không ăn nhịp với những cải cách chính trị và không đặt lại vấn đề đối với quyền lực chuyên chế.

Chủ nghĩa tư bản mới

Sự chi phối của Đảng Cộng sản được thấy rõ trong kinh tế, nơi mà từ nay cùng tồn tại khu vực tư nhân và khu vực công cộng. Qua thời gian, đã xuất hiện một giai cấp thực sự gồm những người có chức quyền cao kiêm nhiệm những vị trí phụ trách trong hai khu vực. Chẳng hạn họ là giám đốc một xưởng máy của xí nghiệp công cộng (hoặc nữ giám đốc, bởi vì người đứng đầu thường là một phụ nữ) và thư ký của công đoàn hoặc bí thư của Đảng ở một xưởng máy, đã về hưu hay đang làm việc. Họ thường lãnh đạo đồng thời đơn vị sản xuất tư nhân của mình, và quy mô của đơn vị này, trong trường hợp khá nhất có thể đạt đến 100 lao động.

Những người công nhân làm việc ở đấy (ở một xưởng máy thường đặt tại nhà của người chủ hay tại nhà mình) được trả lương theo sản phẩm căn cứ trên một biểu giá gần như thống nhất. Hoàn cảnh của họ cực kỳ bấp bênh bởi vì phụ thuộc vào tình hình đặt hàng. Chỉ có những người có địa vị cao mới có thể kiêm nhiệm một chức vụ ổn định trong khu vực công cộng và một chức vụ trong khu vực tư nhân. Xét về mức tiền lương thì chỉ có họ mới có khả năng sống một cách tươm tất; tiếp đó là những người đã có thể ổn định ít nhất là ở một trong hai khu vực. Cuối cùng là những người thực sự bấp bênh chỉ họa hoằn được thuê làm việc trong khu vực tư nhân.

Trong chủ nghĩa tư bản mới này của Việt Nam, sự tích lũy tư bản tài chính giả định một sự tích lũy tiên quyết của tư bản tương đối, tư bản này phải thông qua sự dính líu vào mạng lưới chính trị – công đoàn, nghĩa là mạng lưới Nhà nước trong đó có các xí nghiệp công cộng. Ở các nước Đông Âu, những cuộc tư nhân hóa thường có lợi cho các cán bộ lãnh đạo cũ của các xí nghiệp công cộng. Ở Việt Nam, nơi mà tư nhân hóa chưa thực sự thành vấn đề thời sự, người ta cũng thấy một hiện tượng loại đó, nhưng bùng nổ hơn: con số những người được hưởng lợi nhiều hơn, bởi vì xí nghiệp công cộng, trong khi vẫn được duy trì, lại thúc đẩy việc thành lập ở bên cạnh mình một số rất đông những đơn vị tư nhân. Và như thế từng bước hình thành một đẳng cấp tư sản.

Chủ nghĩa tư bản này sinh ra một loạt gánh nặng xã hội: tham nhũng, buôn lậu, mãi dâm, cờ bạc, và gần đây hơn là ma túy. Báo chí và các bài phát biểu chính thức đã nhắc lại chủ đề này một cách dai dẳng. Trên thực tế, nạn tham nhũng đã động đến cốt lõi của Nhà nước bởi vì ngay cả những viên chức của chính Nhà nước cũng không tôn trọng những quy tắc mà Nhà nước ban bố. Điều đó diễn ra từ việc biển thủ một phần (có lẽ là 1/4) sản xuất than đá quốc doanh của Hòn Gai cho đến việc lậu thuế phổ biến, qua những việc xây dựng trái phép ngay giữa trung tâm thủ đô.

Việc gian lận thuế khóa và hải quan là rất lớn, đến mức mà nguồn tài chính của Nhà nước đã tỏ ra không đủ để đảm bảo hoạt động theo ý muốn của những cơ quan công cộng ở cơ sở như y tế và giáo dục.

Lương bổng của viên chức không cho phép họ mua được những hàng hóa tiêu dùng mà từ nay người ta thấy rất dồi dào, khoảng cách giữa nhu cầu của họ và nguồn tài chính mà họ có được buộc họ phải tìm kiếm những khoản thu nhập bổ sung. Việc trả lương cho viên chức là một vấn đề cơ bản. Trong báo cáo chính trị trình bày ở phiên họp khai mạc Đại hội VIII của Đảng, nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười nhấn mạnh sự cần thiết “tiếp tục cải tiến thang lương, làm thế nào để các viên chức có thể sống bằng thu nhập từ tiền lương của họ”.

Nói tóm lại xã hội Việt Nam đang ở trong một tình hình mà Nhà nước không còn thực sự làm tròn vai trò của mình, và đối mặt với những hiện tượng loạn chức năng đủ loại. Pháp luật không có ý nghĩa gì nữa hoặc cũng chẳng có mấy ý nghĩa, mỗi người tự do phát kiến ra con đường để đi tới mục đích của mình. Hệ thống cũ không còn hoạt động, nhưng cơ chế thị trường hiện đang trở thành nguyên tắc chủ yếu, cũng không hoạt động một cách đúng đắn.

Người dịch: Nguyễn Chí Tình

Nguồn: Philippe Papin, Michel Herland – Le monde de transition. Asiatique – Le Parti contre l’Etat – Libéralisation économique, Autoritarism – politique; Le Monde Diplomatique, 10 Février 2000, p10 – 21.

TN 2000 – 94

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s