+ Tính cộng đồng của những người tiêu dùng

Tính cộng đồng ở đây là sự kết nối giữa các thành viên tham gia trong mạng lưới. Đây là hình thức mạng đa chiều, khi n thành viên trong mạng liên kết với nhau và tạo ra sự vững mạnh của mạng lưới.

Hệ thống bán hàng qua Internet là một ví dụ điển hình. Hệ thống là nơi gặp gỡ giữa người mua và người bán. Khi hệ thống càng mở rộng thì càng có nhiều thành viên, càng trở nên hữu ích và có giá trị đối với mỗi thành viên. Người mua được hàng giá rẻ, chất lượng tốt, được lựa chọn từ nhiều nhà cung cấp khác nhau; người bán được nhiều hàng với chi phí quảng cáo thấp, có khả năng sản xuất với khối lượng lớn, tận dụng được tính kinh tế của quy mô. Mô hình này mang lại lợi ích cho cả người mua và người bán và vì vậy, nó phát triển ngày càng mạnh mẽ.

Công ty đấu giá trực tuyến eBay đã thành công chính nhờ đặc điểm này. Sở dĩ eBay thành công hơn các đối thủ cạnh tranh khác vì họ đã xây dựng được một cộng đồng người tham gia vào eBay. Trên eBay, người mua và người bán được tạo điều kiện để có thể dễ dàng giao tiếp, liên hệ với nhau. Họ cũng có cơ hội được trao đổi ý kiến, đánh giá, nhận xét với nhau, phối hợp với nhau. Tính cộng đồng đó đã tạo nên “hiệu ứng mạng” cho eBay. Càng nhiều người sử dụng eBay, hệ thống của họ càng mạnh. Tất cả người mua đều muốn đến eBay vì ở đó có rất nhiều người bán đang chờ họ, ngược lại, người bán cũng muốn bán hàng trên eBay vì số lượng người đông đảo đang muốn mua hàng hóa của họ. Do đó, số lượng người tham gia trên eBay sẽ ngày càng lớn hơn, tạo ra “hiệu ứng mạng” mạnh mẽ hơn cho website đấu giá trực tuyến này.

d/ Thị trường mạng lưới

+ Khái niệm

Amir Etzinony và Avis Weiss đã chỉ ra rằng, thị trường mạng lưới là thị trường có sản phẩm tồn tại “hiệu ứng mạng”. Trong thị trường này có sự xuất hiện của mô hình lợi nhuận tăng dần.

Giá trị của một sản phẩm trong thị trường mạng lưới (V) chịu ảnh hưởng bởi:

V = α + γZt

trong đó:

Zt: là kích cỡ của mạng lưới ở thời điểm t

α: giá trị khi không có “hiệu ứng mạng”

γ: giá trị có được từ “hiệu ứng mạng”

Như vậy, giá trị của sản phẩm trên thị trường mạng lưới tỷ lệ thuận với số người tiêu dùng trong mạng lưới đó hay kích cỡ của mạng lưới.

+ Những nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động của thị trường mạng lưới.

Sản lượng hiệu quả tối thiểu của doanh nghiệp

Nhân tố đầu tiên ảnh hưởng tới hoạt động của thị trường mạng lưới là mức sản lượng hiệu quả tối thiểu mà doanh nghiệp cần đạt được để có thể tạo ra “hiệu ứng mạng”. Vậy sản lượng hiệu quả tối thiểu là gì?

Khái niệm sản lượng hiệu quả tối thiểu được giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1974 và minh họa qua hình vẽ sau:

Trong hình vẽ trên, trục tung P biểu diễn chi phí (giá cả), trục hoành biểu diễn tỷ lệ người gia nhập, có giá trị từ 0 đến 1.

Khi mức chi phí P1 tồn tại, hai điểm A và B được gọi là hai điểm cân bằng. Điều này được giải thích như sau:

Điểm A là điểm mà tại đó, lợi ích cận biên thu được từ mạng và chi phí gia nhập cận biên vừa đúng bằng nhau. Tại điểm này, nếu số người gia nhập tăng lên 1 người thì lợi ích cận biên từ việc gia nhập mạng lưới sẽ lớn hơn chi phí cận biên nên số người mới gia nhập mạng sẽ tăng lên. Số người gia nhập mạng tăng lên thì lợi ích thu được từ mạng càng lớn, do đ1o, số người gia nhập mạng sẽ tăng hơn nữa. Quá trình này sẽ lặp đi lặp lại và di chuyển dần về điểm B. Ngược lại, nếu như số người tham gia vào mạng giảm đi 1 người thì ích lợi thu được từ mạng sẽ nhỏ hơn chi phí gia nhập mạng. Do đó, sẽ xuất hiện những người rút lui khỏi mạng lưới và kết quả là lợi ích thu được từ mạng sẽ còn thấp hơn nữa. Lợi ích thu được từ mạng càng thấp thì càng là động cơ cho nhiều người khác rút lui khỏi mạng. Điều này cứ lặp đi lặp lại, số người gia nhập mạng liên tục giảm cho đến khi bằng 0.

Tại điểm B, nếu số người gia nhập giảm đ 1 người thì lợi ích cận biên thu được từ mạng sẽ lớn hơn chi phí gia nhập mạng và điều này sẽ thu hút thêm nhiều người mới gia nhập mạng. Ngược lại, nếu số người gia nhập mạng tăng lên sẽ làm giảm lợi ích của những người đang ở trong mạng, làm lợi ích cận biên thấp hơn chi phí cận biên khiến cho các thành viên trong mạng lưới lần lượt rời bỏ mạng. Số người gia nhập mạng sẽ đạt được điểm cân bằng tại B, không có người mới gia nhập, không có người cũ rút lui khi chi ph1i cận biên và lợi ích cân biên bằng nhau.

Trong hai điểm cân bằng A, B phân tích ở trên, điểm A được gọi là điểm biểu diễn mức sản lượng hiệu quả tối thiểu (hay còn gọi là khối lượng tới hạn). Sản lượng hiệu quả tối thiểu là lượng sản phẩm tối thiểu hay thị phần của một sản phẩm có “hiệu ứng mạng” mà doanh nghiệp phải đạt được mới đủ sức hấp dẫn người tiêu dùng. Nói cách khác, để doanh nghiệp đạt được “hiệu ứng mạng” với sản phẩm đó thì phải có một lượng khách hàng nhất định chấp nhận gia nhập mạng lưới. Tại mức sản lượng hiệu quả tối thiểu này, lợi ích mà hàng hóa, dịch vụ đó mang lại cho người tiêu dùng sẽ lớn hơn hoặc bằng với chi phí mà người tiêu dùng trả để có được hàng hóa, dịch vụ đó. Lúc này, giá trị của một hàng hóa mạng lưới sẽ được tính dựa trên giá trị của bản thân sản phẩm và dựa trên số người đã tiêu dùng sản phẩm đó. Và người tiêu dùng mua sản phẩm không chỉ vì giá trị của bản thân sản phẩm đó mà còn vì giá trị của mạng lưới sản phẩm đó đem lại.

Ví dụ minh họa cho hiện tượng này là mức sản lượng hiệu quả tối thiểu trong ngành công nghiệp sản xuất máy vi tính. Năm 1995, sau khi vượt qua được tỷ lệ phổ cập 20% (là tỷ lệ được tính như mức sản lượng hiệu quả tối thiểu trong ngành công nghiệp máy vi tính), máy vi tính đã đạt được tốc độ phổ cập lên tới 80% trên toàn cầu. Việc vượt qua mức sản lượng hiệu quả tối thiểu, qua đó đạt được “hiệu ứng mạng” đã giúp cho máy tính được phổ cập nhanh chóng, có mặt ở khắp mọi nơi trên toàn thế giới.

Mức sản lượng hiệu quả tối thiểu này có thể coi là mục tiêu phải đạt được của doanh nghiệp khi muốn có được “hiệu ứng mạng” cho sản phẩm của mình. Tuy nhiên, đây có thể coi là trở ngại mà mỗi doanh nghiệp kinh doanh trên thị trường mạng lưới phải trải qua. Khi lần đầu giới thiệu một sản phẩm ra thị trường, doanh nghiệp sẽ không thể tính toán được chính xác có bao nhiêu người sẵn sàng mua sản phẩm và cũng không thể thống kê được đầy đủ có bao nhiêu sản phẩm bổ sung, thay thế cho sản phẩm đó trên thị trường. Cái khó ở đây, giống như vấn đề “con gà và quả trứng”, là khi quy mô của mạng lưới quá nhỏ thì sẽ không thể thu hút được khách hàng gia nhập mạng lưới và ngược lại, bởi vì không có khách hàng nào muốn gia nhập thị trường nên quy mô của mạng lưới sẽ không hể mở rộng hơn được. Nhân tố quyết định để giải quyết trở ngại này chính là kỳ vọng của người tiêu dùng. Khi người tiêu dùng quyết định chọn một sản phẩm với “hiệu ứng mạng” (trong một mạng lưới), kỳ vọng của họ về sản phẩm chiếm vị trí quan trọng ảnh hưởng tới lượng hàng bán ra. Cụ thể là, nếu người tiêu dùng tin chắc chắn mạng lưới A sẽ lớn mạnh trong tương lai thì họ sẽ lập tức gia nhập vào mạng lưới đó, và kết quả tất yếu là mạng lưới A sẽ lớn mạnh. Ngược lại, nếu người tiêu dùng đánh giá mạng lưới A là không có triển vọng trong tương lai thì mạng lưới A sẽ không thể mở rộng.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Thị Tường Anh – Áp dụng “hiệu ứng mạng” trong cạnh tranh quốc tế – NXB CTQG 2014

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s