Dĩ nhiên, không phải chỉ các chính trị gia mới là những người mắc sai lầm. Các cơ quan chính phủ luôn hiểu rằng, cách hiệu quả nhất để bảo vệ họ là đổ lỗi cho sự tăng lên của những mối nguy hiểm. Rất ít người chỉ trích cơ quan chính phủ đưa ra lời cảnh báo cao khi mà nguy cơ đó có thể không xảy ra. Nguy cơ càng nhạy cảm về mặt chính trị bao nhiêu thì điều đó càng thực tế bấy nhiêu, và tại Mỹ, không có điều gì nhạy cảm đối với nền chính trị nói chung bằng Chủ nghĩa khủng bố. Điều này giải thích những tuyên bố như của Porter Goss – Giám đốc CIA: “Chỉ là vấn đề thời gian trước khi al-Qaeda hay một vài nhóm nào khác sẽ thử dùng vũ khí sinh học, hóa học, hay hạt nhân nhằm vào chúng ta”. Điều này thật là đáng sợ nhưng cũng vô nghĩa lý. Tất cả những thứ tồi tệ có thể xảy ra. Đó không phải là một thông tin có thật, đó là một khoản bảo hiểm. Trong trường hợp điều này xảy ra, người ta có thể có bằng chứng rằng, CIA đã rất nhanh nhạy, và nếu nó chẳng bao giờ xảy ra thì nó sẽ chìm vào quên lãng. Khả năng một người Mỹ bình thường phán xét về tuyên bố của Goss là CIA đã có những lý do chắc chắn để tin rằng, điều khủng khiếp sẽ xảy ra này chỉ là tình cờ.

Giám đốc FBI, ngài Robert Mueller còn cẩn trọng hơn với một phát biểu ngớ ngẩn. Khi ông ta bị điều trần trước một ủy ban quốc hội vào tháng 02 năm 2005, Mueller đã không hề nhấn mạnh sự vắng mặt của các cuộc tấn công khủng bố, việc không tìm thấy hoạt động của các nhóm khủng bố hay al-Qaeda chỉ đơn giản là không có đủ sức mạnh để tấn công nước Mỹ. Thay vào đó, ông ta lo lắng: “Tôi cảm thấy rất lo ngại về những gì mà chúng ta không nhìn thấy được”. Là một chuyên gia nghiên cứu khoa học chính trị, John Mueller chua chát nhận xét trong cuốn sách của ông có tên là Overblown (Quá mức): “Đối với một giám đốc cơ quan an ninh quan liêu, không hề có bằng chứng rõ ràng chính là bằng chứng của sự tồn tại”.

Các cơ quan chính phủ khác cũng có những lý do thích hợp để thổi phồng chủ nghĩa khủng bố. Một số cơ quan làm vậy để bảo toàn ngân sách của mình. Nhận thấy sứ mệnh của mình không còn được chú ý trong những ưu tiên của chính quyền, một cơ quan dược phẩm của Chính phủ đã tổ chức một cuộc triển lãm giải thích bằng cách nào lợi nhuận từ buôn bán thuốc trái phép hỗ trợ cho bọn khủng bố, trong khi Cơ quan Quản lý Dược phẩm Quốc gia tiêu tốn hàng triệu đôla vào một chiến dịch vận động ước tính chi phí tốn gấp 10 lần chi phí chống khủng bố.

Timothy Lynch của Viện Cato tại thủ đô Washington nói: “Sau 11 tháng 09 các cơ quan chuyên vận động hành lang và những chính trị gia nhanh chóng nhận ra rằng, cách tốt nhất để đảm bảo sự thông qua một dự luật như dự luật tiêu dùng là gói những ý tưởng này với một biện pháp “an ninh quốc gia” ngay cả khi việc chi tiêu này chẳng liên quan gì tới quốc phòng cả”. Lynch chỉ ra một vài ví dụ rất thú vị chứng minh cho luận điểm trên của mình: 250.000 đôla trang bị máy điều hòa cho hệ thống xe tải chở rác ở Newark, New Jersey; 557.000 đôla cho các thiết bị truyền thông tại thành phố North Pole, Alaska; 900.000 đôla cho các chuyến phà hoạt động ngàoi vùng Martha’s Vineyard – nơi mà chính Giám đốc cảng đó thừa nhận: “Tôi không biết chúng tôi sắp làm gì, nhưng bạn đừng từc hối số tiền tài trợ đó”. Ở khắp các thành phố và các bến cảng của nước Mỹ, các quan chức nhìn thấy tiền của liên bang chảy xuống và bị thuyết phục rằng, một cuộc tấn công khủng bố là một khả năng thật sự và họ sẽ trở nên vô trách nhiệm nếu không nhận khoản tiền đó.

Các thiết bị an ninh luôn là một mối quan tâm và một ngành kinh doanh lớn, nhưng sau 11 tháng 09 nó trở thành ngành kinh doanh của tương lai. Theo một tổ chức tình báo tại Washington, số các công ty đã vận động hành lang các quan chức Bộ An ninh nội địa (Homeland Security) từ khoảng 15 công ty năm 2001 lên tới 861 năm 2004. Các công ty sản xuất thiết bị cho cảnh sách chẳng hứng thú khi thấy tình hình tội phạm không tăng, vì nếu vậy, họ sẽ chẳng có lý do để tăng cường hoạt động kinh doanh. Và với một phát ngôn viên trong đội ngũ của John Ashcroft – Chưởng lý đầu tiên của chính quyền Bush, người sau khi rời nhiệm sở, thành lập một công ty vận động hành lang chuyên về các vấn đề đối nội và những công ty này không mấy khó khăn biến quan điểm của họ được nhiều người biết đến.

Những ủy viên công tố đầy tham vọng khác cũng khám phá ra rằng, nói về chủ nghĩa khủng bố là một tuyệt vời để gây chú ý. Luật sư Rosynn Mauskopf phát biểu vào tháng 06 năm 2007 trong một cuộc họp báo tại sân bay John Kennedy của New York rằng: “Một trong những kịch bản khiến người ta phải rùng mình nhất là hoàn toàn có thể tưởng tượng được. Thảm họa ấy không thể khủng khiếp hơn”. Những lời phát biểu này đặc biệt mạnh mẽ ở tại một thành phố đã trải qua vụ 11 tháng 09. Bốn người đàn ông bị buộc tội về việc làm nổ tung các thùng chứa nhiên liệu máy bay tại sân bay, điều mà ta tin rằng sẽ phá hủy cả sân bay John Kennedy, và rõ ràng là, làm suy yếu nền kinh tế Mỹ. Họ không có kế hoạch, chỉ là một vài phác thảo mơ hồ của một kế hoạch được xây dựng trên sự ngu dốt và hão huyền. Người phát ngôn của công ty cung cấp hệ thống nhiên liệu cho sân bay John Kennedy phát biểu trên tờ Time ngay sau khi lời buộc tội được đưa ra: “Họ thật ngu ngốc! Làm nổ một thùng nhiên liệu là cực kỳ khó ông nói, và thậm chí là nếu điều này được thực hiện và vụ nổ cũng không thể lan sang các thùng nhiên liệu khác thông qua các ống dẫn như những kẻ chủ mưu kết luận. Vì vậy, ngay cả khi mọi việc diễn ra đúng kế hoạch như họ hình dung, thì nó cũng chỉ là một vụ việc khiêm tốn. Mặc dù, sự miêu tả của Mauskopt và vụ tấn công này như “một sự tổn hại, sự chết chóc và sự phá hoại không đo đếm được” đã được loan tin trên toàn thế giới.

Các tổ chức phi chính phủ cũng cảm thấy chủ nghĩa khủng bố có thể được sử dụng để mở rộng ảnh hưởng của họ. Tổ chức Greenpace (Hòa bình xanh) và các tổ chức chống sử dụng năng lượng hạt nhân khác biến chủ nghĩa khủng bố thành một chủ đề trung tâm, cảnh báo rằng bọn khủng bố có thể tấn công vào các cơ sở hạt nhân và việc xây dựng những nhà máy mới sẽ làm tăng nguy cơ nhiên liệu hạt nhân bị sử dụng vào những mục đích bất chính. Viện Quan sát Thế giới (Worldwatch Institute) cũng tiến hành một chiến dịch tương tự nhằm chống lại sự công nghiệp hóa nông nghiệp bằng lập luận rằng, sản xuất thực phẩm tập trung có thể giúp bọn khủng bố thâm nhập và gieo rắc những vụ chết chóc hàng loạt. (“Nguy cơ khủng bố sinh học trong thị trấn của bạn” là một trong những thông cáo báo chí nhắc tới điều này). Viện trợ nước ngoài cho châu Phi, biến đổi khí hậu, cái gì cũng kết nối với chủ nghĩa khủng bố. Chủ nghĩa khủng bố là một cuộc khủng hoảng ghê gớm che lấp hết các mối quan tâm khác.

Và rồi xuất hiện một “ngành công nghiệp chủ nghĩa khủng bố” như John Mueller đã gọi nó. Sau 11 tháng 09, trách nhiệm của các chuyên gia chống khủng bố và các nhà phân tích lên cao và rất hợp thời với những lời tiên đoán. Brian Micheal Jenkins một trong những chuyên gia chống khủng bố toàn cầu đầu tiên đã viết: “Một vài trong số rất nhiều cuốn sách viết về khủng bố từ vụ 11 tháng 09 là những lời công kích kịch liệt của những cuộc bút chiến ầm ĩ và sự kinh doanh nỗi sợ hãi”.

Richard Clarke, quan chức hàng đầu chống khủng bố thời Bill Clinton và G.W. Bush, đã dành nhiều thời gian của mình sau khi rời Nhà Trắng để viết lên những câu chuyện khủng khiếp về sự dã man của khủng bố. Vài chuyện còn rùng rợn hơn cả tiểu thuyết của Tom Clancy, trong khi một số khác lại chứa đựng những phân tích thực tế hơn. Thật khó để kể một câu chuyện có thật từ một chuyện không có thật. Tháng 1 năm 2005, Clarke có bãi xã luận trên tạp chí The Atlantic Monthly, trong đó vẽ ra “làn sóng thứ hai” do al-Qaeda thực hiện sẽ bắt đầu vào năm 2005, khởi động cho một chuỗi các sự kiện gây ra cái chết cho hàng ngàn người, những người Mỹ theo đạo Hồi sẽ bị đưa đến các nhà tù, đảo chính ở Saudi Arabia, nền kinh tế thế giới trì trệ và Mỹ phải ban bố tình trạng khẩn cấp.

Kịch bản này – như các kịch bản tương tự khác – được vẽ ra để thỏa mãn nhu cầu của công chúng, nhưng có rất nhiều kịch bản được đưa vào trong các tài liệu của chính phủ. Cú sốc 11 tháng 09 đã khiến các quan chức sẵn sàng tưởng tượng ra những điều không tưởng,  một khuynh hướng được ủng hộ khi mà Ủy ban phụ trách vụ 11 tháng 09 kết luận rằng, thất bại lớn nhất của chính phủ đối với các cuộc tấn công này là “thiếu óc tưởng tượng”. Từ các nhà học giả đến các tác giả chuyên viết chuyện trinh thám, “những nhà dự báo tương lai” (futurists), đến các nhà biên kịch tại Hollywood đã được mời tới Washington và được hỏi về cách mà mọi việc trở nên tồi tệ như thế nào. Những bài tập này dường như không đem lại những kịch bản khủng bố điển hình như “có bom trong hòm thư: hai người đã chết”. Trong trí tưởng tượng, chủ nghĩa khủng bố luôn có kết cục thê thảm.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Dan Gardner – Nguy cơ, khoa học & chính trị về nỗi sợ hãi – NXB LĐ-XH 2008.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s