Việc phân tích các tính quy luật gắn liền với sự tác động qua lại giữa lĩnh vực vật chất (mà trước hết là kinh tế) và lĩnh vực phi vật chất (tinh thần, trí tuệ, thông tin) của xã hội chính là phần trung tâm chú ý của D.P. Gorsky.

Đầu tiên ông xem xét những luận điểm cơ bản của môn kinh tế chính trị học do K. Marx xây dựng. Trong lý thuyết đã phát triển về giá trị lao động, Marx đã phân tích lao động chân tay đơn giản và đồng thời ở đây đã giả định sai lầm rằng kỹ thuật và công nghệ không tạo ra giá trị mới, mà chỉ chuyển giá trị của bản thân nó vào sản phẩm được làm ra thôi. Ở đây kỹ thuật, khi tăng cường độ lao động, tăng cường bóc lột người công nhân đã tạo khả năng tăng năng suất lao động, tức là trong cùng một đơn vị thời gian cho ra được một số lượng hàng hóa lớn hơn, lại có chất lượng tốt hơn; điều này, đến lượt mình, cho phép nhà tư bản giảm giá hàng hóa thu được thêm nhiều lãi hơn và làm cho những kẻ cạnh tranh với mình đi đến phá sản. Điều đó có nghĩa là việc ứng dụng kỹ thuật mới không làm tăng tổng giá trị sản phẩm xã hội ở quy một xã hội này hay khác, mà chỉ dẫn đến chỗ phân phối lại giá trị đã tích lũy được giữa các nhà tư bản. Phương tiện duy nhất để tăng giá trị xã hội là bóc lột “lao động sống”, tức là những động tác của ngón tay, bàntay và chân con người. Đó là kết luận mà Marx đã rút ra về tính tất yếu của sự tăng cường bóc lột công nhân trong quá trình áp dụng kỹ thuật hiện đại hơn vào sản xuất, về sự phát triển quá trình vô sản hóa xã hội ở các nước TBCN tiên tiến, quá trình không ngừng mất giá hơn của sức lao động, về sự khốn cùng tương đối và tuyệt đối của giai cấp công nhân. Chẳng hạn, Marx viết: “Từ đó suy ra rằng việc tăng năng suất lao động làm giảm giá trị sức lao động…”. Ông đã trình bày quy luật kinh tế cơ bản theo đó, sự bóc lột sức lao động ngày càng tăng lên, và quy luật tuyệt đối của sự tích lũy TBCN, trong đó ghi nhận rằng quá trình khốn cùng của giai cấp công nhân không ngừng tăng lên.

Như vậy, lực lượng sản xuất không ngừng phát triển của xã hội nằm trong mối quan hệ hết sức mâu thuẫn và không giải quyết được với quan hệ sản xuất TBCN hiện tồn (vì lực lượng sản xuất cơ bản – giai cấp công nhân – bị đẩy đến chỗ nghèo khổ cùng cực, sự phát triển của các lực lượng sản xuất làm méo mó người công nhân, “biến họ thành con người không hoàn chỉnh”, “ném vợ con họ vào cái cối xay thịt của tư bản”. Do đó, cách mạng XHCN là tất yếu không tránh khỏi. Tuy nhiên, ảo tưởng này lại đẻ ra những ảo tưởng khác: ảo tưởng của cách luận chứng về mặt kinh tế cho tính tất yếu phải xảy đến một hiện tượng có tính chất định mệnh của loài người; điều đó đã đẻ ra ở nhiều người marxist ảo tưởng cho rằng dường như mọi hiện tượng xã hội có ý nghĩa đối với cộng đồng xã hội đều chỉ có thể (hoặc chủ yếu) giải thích bằng các nhân tố kinh tế. Không phủ nhận ý nghĩa hết sức to lớn của phép phân tích kinh tế đối với việc xây dựng các mô hình cộng đồng xã hội. Tuy vậy, chúng tôi vẫn cho rằng thường là khi xây dựng các mô hình đó, đóng vai trò cơ bản phải có cả những nhân tố thuộc loại phi kinh tế.

Sau khi phân tích kỹ lưỡng, D.P. Gorsky đã chỉ ra tính chất bấp bênh của các kết luận mà Marx đã rút ra trong bộ “Tư bản”. Những nguyên nhân cơ bản của nó là:

1/ Trong việc tạo ra giá trị xã hội mới có sự tham gia không chỉ của lao động chân tay đơn giản, mà của cả lao động trí óc;

2/ Nét nổi bật của những quy luật tương đối chung của tồn tại xã hội là ở chỗ chúng không thay đổi theo các giai đoạn khác nhau của cùng một thời đại lịch sử xã hội đó, mà có thể còn chấm dứt tác dụng của mình để nhường chỗ cho sự xuất hiện của những quy luật khác;

3/ Hiểu sai về các quy luật xã hội.

Liên quan đến điểm cuối cùng này, trong cuốn sách đưa ra một sự phân tích sâu sắc về những khái niệm quan trọng như “quy luật xã hội” và “tính quy luật xã hội”.

Theo ý kiến của D.P. Gorsky, các quy luật phát triển của cộng đồng xã hội không bộc lộ cùng với tính tất yếu lịch sử – tự nhiên mở đường đi xuyên qua vô số những ngẫu nhiên: như các nhà kinh điển chủ nghĩa Marx đã quan niệm. Ngược lại, các quy luật phát triển xã hội (loại trừ tính khuôn sáo) là những quy luật – xu thế. Chúng gần giống với những quy luật chuyển động xoáy: không mang tính đơn nghĩa, tác động theo nhiều cách khác nhau trong điều kiện phát triển tương đối bình yêu của xã hội và trong thời đại có những cải biến cách mạng, và (đây là điểm chính yếu nhất) tính ngẫu nhiên đối với chúng không đơn thuần là hình thức biểu hiện của tính tất yếu, mà đóng vai trò tạo dựng quan trọng trong sự hình thành những chuyển biến đó. Đặc trưng tác động của những quy luật đó là sự kiện không quan trọng lắm diễn ra trong xã hội cũng có thể trở thành nguyên nhân gây nên những hậu quả xã hội rất lớn.

Hơn thế, những điều kiện đặc thù ban đầu bao giờ cũng phải có khi trình bày quy luật – những điều kiện này thường xuyên thay đổi trong môi trường cộng đồng xã hội. Vì vậy, quy luật được coi là có tính phổ quát thường mất tác dụng, nếu những điều kiện ban đầu đã thay đổi.

Ngoài ra, phải phân biệt hai dạng quy luật – xu thế: hiểu theo nghĩa mạnh và hiểu theo nghĩa yếu. Những quy luật của xã hội quy định tuyến phát triển cơ bản của nó thường có rất nhiều ngẫu nhiên và lệch khỏi tuyến đại lộ cơ bản của việc thực hiện chúng ở những giai đoạn phát triển lịch sử khác nhau. Và vì thế chúng mang tính chất gần đúng, trung hòa. Tuy nhiên, ở đây, xu thế mang tính tất yếu lịch sử tự nhiên. Marx đã hiểu như vậy về các quy luật – xu thế khi phân tích nền sản xuất TBCN ông viết: “Nói chung trong nền sản xuất TBCN, các quy luật phổ biến được thực hiện một cách gần đúng và lẫn lộn, chỉ như là một xu thế thống ngự, nằm ở giữa những dao động thường xuyên chứ không bao giờ được định hình một cách cứng nhắc”. Hiểu các quy luật phổ quát theo nghĩa mạnh là nét vốn có của chủ nghĩa Marx.

Các quy luật – xu thế hiểu theo nghĩa yếu là khác về căn bản với các quy luật – xu thế hiểu theo nghĩa mạnh. Các quy luật – xu thế hiểu theo nghĩa yếu cũng giống như các quy luật – xu thế hiểu theo nghĩa mạnh, chỉ quy định tuyến chủ đạo, cơ bản sự thực hiện của mình thông qua vô số ngẫu nhiên và lệch lạc, đều mang tính chất gần đúng, trung hòa, nhưng lại có thể thay đổi một cách căn bản hoặc thậm chí mất hẳn tác dụng của mình như đã dự đoán trước ở những giai đoạn phát triển nào đó của xã hội. Sở dĩ như vậy là vì trong tiến trình phát triển của xã hội, những điều kiện ban đầu trong đó, các quy luật – xu thế dự đoán có tác dụng lại thường xuyên thay đổi, thêm nữa vì các ngẫn nhiên có thể biến thành cái tất yếu và phong bế xu thế đã hình thành trước đó. Vì vậy, những hạn chế thường nảy sinh của tính chất chung giống nhau của các quy luật – xu thế cũng có nghĩa là chúng không tác động với tính tất yếu lịch sử – tự nhiên.

Tất nhiên xét trên nhiều vấn đề cũng có thể còn phải tranh luận thêm với tác giả. Nhưng cũng chính vì vậy, đây là một cuốn sách đáng chú ý đối với người đọc có suy nghĩ không theo chuẩn mực chính thống quan tâm đến những vấn đề của sự phát triển xã hội.

Người dịch: Ngô Thế Phúc

Nguồn: TĐB 96 – 12

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s