Allison Truitt

Tiền là tiên là phật

Trong thời gian tôi tiến hành nghiên cứu ở Thành phố Hồ Chí Minh (từ năm 2000 đến năm 2002), tôi thường nghe người dân ở Thành phố Hồ Chí Minh dùng câu “Tiền là tiên là phật” để mô tả sức mạnh của đồng tiền. Điều người ta quan tâm đến tiền cho thấy tầm quan trọng ngày càng tăng của tiền bạc trong đời sống hàng ngày. Nền kinh tế dựa vào tiền tệ không phải là chuyện mặc nhiên (neither take-for-granted) và cũng không phải là có một dòng tư tưởng xuyên suốt và mạch lạc (nor ideologically coherent). Cái tầm thường như tiền có thể cho chúng ta biết gì về trải nghiệm của người ta với tiến trình tự do hóa thị trường?

Các nhà kinh tế học chú trọng phần lớn đến khái niệm đơn thuần về tiền, xem tiền như cái có thể dùng để đổi chác, không hơn không kém (xem Simmel, 1978: 130). Ngược lại, các nhà lý luận xã hội lập luận rằng tiền là một trong những lực hữu hình (tangible), và thực sự là có tính quyết định đưa đến những thay đổi. Ở Tây Âu hay Bắc Mỹ, sự phát triển của nền kinh tế tiền tệ gắn kết chặt chẽ với việc hình thành những thể chế chính thức, nhất là các ngân hàng. Trong nghiên cứu của tôi, mối quan tâm chính củ tôi là tập quán và thái độ của người ta về tiền tệ. Tôi muốn hiểu ý tưởng của một khái niệm học thuật đơn thuần về đồng tiền đã ngự trị như thế nào và ở đâu, và ý tưởng này đã thất bại ở đâu và như thế nào. Việc người ta dùng tiền, cất giữ tiền, và giao dịch bằng tiền mặt như thế nào là một khởi điểm cụ thể cho việc thu thập dữ liệu về việc người ta sử dụng tiền và quan niệm thế nào về tiền, khi nào thì người ta xem các loại tiền khác nhau là tương thích hay không tương thích. Liệu những cách sử dụng tiền mặt khác nhau ở Thành phố Hồ Chí Minh có thể cho chúng ta thấy rõ về việc quan hệ xã hội bị phá vỡ và tái tạo như thế nào trong một xã hội trải nghiệm những tăng trưởng kinh tế đáng kinh ngạc?

Tôi bắt đầu với một thảo luận tóm tắt về việc các nhà lý thuyết đã xem đồng tiền như là điều kiện của cuộc sống hiện đại như thế nào. Sau đó tôi xem xét việc các chuyên gia nhân học đã đưa ra những sự hiểu biết khác về đồng tiền bằng cách nhấn mạnh đến việc đồng tiền gắn kết thế nào với các hệ thống văn hóa. Tôi cũng lập luận là trong thế giới toàn cầu hóa, những hiểu biết khác về đồng tiền ngày càng khó bền vững, dù là nghiên cứu nhân học không thể không quan tâm đến những hiểu biết này. Tiếp theo tôi đề ra một lý giải khác xung quanh khái niệm về sự chuyển đổi của giá trị, việc đồng tiền đã làm thay đổi quan hệ xã hội và những hình thái văn hóa như thế nào. Để minh họa theo lối dân tộc chí khái niệm này về sự chuyển đổi giá trị, tôi sử dụng ba ví dụ – đôla hóa, nền kinh tế quà cáp và các máy rút tiền tự động – ATM.

Đồng tiền và sự hiện đại

Có rất nhiều những câu chuyện về cái hiện đại được dựa trên sự mất đi của một cộng đồng đã từng gắn bó với nhau bởi các tương tác trực diện và có cùng chung một số giá trị (Durkheim 1953, Simmel 1990). Những xã hội hiện đại được hiểu là một xã hội tách biệt và làm cho người ta không thấy gắn kết (alienating). Đồng tiền trở thành một biểu tượng chính yếu cho sự thờ ơ này. Những câu chuyện này định vị nguồn gốc của cái hiện đại trong cuộc sống đô thị ở Châu Âu và Bắc Mỹ. Các thành phố ở Châu Âu là những trung tâm sản xuất, sử dụng những cách phân chia lao động mới và khuyến khích những phương thức tích lũy mới (xem Braudel 1981: 514). Trong đời sống hàng ngày ở các đô thị, các ngân hàng và sự lưu thông tiền tệ đóng một vai trò quan trọng và ở một tầm cao mới (Giddens 1990: 2). Và khi người ta tham gia những giao dịch thị trường, thì họ xem đồng tiền ổn định như là một nhu cầu tối thượng của xã hội (Polanyi 1957: 24). Những nhà lý thuyết khác (Simmel 1978) tập trung soi sáng (highlight) việc người ta tìm kiếm ý nghĩa trong một thế giới bị thương mại tác động. Những cá thể thị dân thường thức cảm giác tự do, nhưng cũng chỉ khi họ gắn kết với nền kinh tế dựa vào tiền tệ này. Các trải nghiệm đô thị, bị tác động mạnh nhất bởi đồng tiền, và đồng tiền góp phần vào sự tăng tốc và những khái niệm mới về thời gian và không gian (Simmel 1989: 165).

Các nhà học giả trên lập luận rằng nền kinh tế dựa vào tiền tệ này chỉ có thể bền vững khi người ta tin tưởng rằng đồng tiền mà người ta nhận thì cũng có thể được dùng để chi tiêu. Không có niềm tin này thì mọi giao dịch về tiền tệ sẽ bị sụp đổ. Chính yếu tố tin cậy này đã tạo cho đồng tiền cái tiềm năng của nó (Simmel 1978: 242). Và nhiều nhà lý luận xã hội đã lập luận là tiềm năng này quyết định cho cái hiện đại. Các nhà sử học và các nhà khoa học chính trị đã tìm hiểu xem nền kinh tế dựa trên niềm tin này được kết nối với các dự án chính trị về hình thành nhà nước trong thế kỷ XIX và thế kỷ thứ XX như thế nào. Đồng tiền trên lãnh thổ là một công cụ mà qua đó nhà nước củng cố quyền của mình trên lãnh thổ. Qua những biện pháp của nhà nước, thì những dạng tiền tệ khác nhau đã được quy về một loại tiền tệ chung cho cả nước (Helleiner 2003). Đồng tiền chuẩn mực, được lưu hành trong địa bàn của nhà nước, cũng là công cụ giáo dục giúp cho việc gắn kết về tâm lý với cộng đồng quốc gia. Tiền giấy có những hình ảnh của các lãnh tụ chính trị, và như thế thì đã nhấn mạnh đến tương quan giữa quyền lực nhà nước và việc tạo ra thị trường (Heilleiner 2003; Gilbert & Helleiner 1999).

Những câu chuyện kết nối đồng tiền với cái hiện đại này không phải là không gây tranh luận. Một số học giả đã tranh luận với quan điểm coi đồng tiền là không có tính chất gì và thiếu yếu tố cá nhân. Họ cho là khái niệm về “con người”  không được xác định bởi tính cách xã hội và không bị ràng buộc bởi các quan hệ xã hội là một mô hình thiếu phong phú về bản chất con người. Không phải chỉ có các nhà lý luận về đô thị mới chấp nhận mô hình này về bản chất con người. Kinh tế học tân cổ điển cũng dựa trên một mô hình trong đó con người được xem là độc lập và duy lý (xem Wilks & Cliggett 2007). Trong một nghiên cứu về việc dùng tiền trong phạm vi gia đình ở Mỹ, Viviana Zelizar (1997) đã xem xét việc con người dành tiền mặt cho những sử dụng ngoài xã hội và những sủ dụng riêng tư đặc thù. Viviana Zelizar lập luận rằng những lĩnh vực của cuộc sống ở ngoại vi của cuộc sống kinh tế hiện đại là những mảng quan trọng để hiểu được con người “tiêu thụ tiền, chuyển giao chúng cho phù hợp với các giá trị và các mối quan hệ xã hội khác nhau” như thế nào (1997: 2004).

Các nhà nghiên cứu nhân học cũng tranh luận với lý thuyết có tính thống trị ở trên về tiền phần lớn qua việc nghiên cứu cái hiện đại ở những xã hội ngoài phương Tây. Liệu những hiểu biết về đồng tiền ở các xã hội ở Châu Âu và Bắc Mỹ có đủ để hiểu vị trí của đồng tiền ở các xã hội khác không?

Tiền và văn hóa

Trong những năm đầu của thế kỷ thứ 20, các chuyên gia nhân học đã đưa ra một khái niệm “đồng tiền cổ sơ”, khác với “đồng tiền hiện đại” là tiền do nhà nước phát hành và được sử dụng trong tất cả các giao dịc. Trong khi khái niệm đồng tiền cổ sơ đã không thách thức những giả định phổ biến cho rằng cái hiện đại xuất phát từ Châu Âu và rồi lan tỏa ra, thì khái niệm này đã cho phép các nhà nghiên cứu nhân học đặt ra câu hỏi vậy thì bằng cách nào ý nghĩa về đồng tiền của họ được bắt nguồn từ một xã hội đã hiện đại và tư bản. Khái niệm về tiền cổ sơ và việc những loại tiền này chỉ được dùng để đổi chác vài thứ cụ thể đưa đến một số câu hỏi như: Những “đồ quý giá” như vỏ kula có là tiền không (Malinowski 1921: 15)? Đồng tiền đã thâm nhập vào những mảng phi tiền tệ như thế nào (Douglas 1958)? Những khái niệm bản địa về giá trị đã chịu ảnh hưởng của đồng tiền của thời thời kỳ thực địa như thế nào (Bohannah 1955, 1959)? Việc sử dụng đồng tiền đã phản ánh cơ cấu xã hội kinh tế của những nhóm cụ thể như thế nào (Dalton 1957)?

Tiến trình tiền tệ hóa (sử dụng tiền ngày càng rộng rãi) thách thức nhiều định đề của nhân học văn hóa. Trong những thập kỷ đầu của thế kỷ XX, ngành nghiên cứu này nhấn mạnh đến tính tổng thể và tương đối của văn hóa (cultural holism and relativism). Quan tâm đến nghĩa vụ đạo đức của việc thu thập dữ liệu về những hình thái khác với hệ thống tư bản, các chuyên gia nhân học nhấn mạnh đến sự đoàn kết xã hội và quan hệ hỗ tương nhiều hơn là đến những trao đổi thị trường. Quan hệ hỗ tương qua lại và các hệ thống kinh tế dựa vào trao đổi quà là những chủ đề rất quan trọng, một phần vì những quan tâm và định đề tiền lý thuyết (“pre-theoretical commitments”) của ngành nhân học (Moore 2004). Những định đề đó đã thúc đẩy một khái niệm về văn hóa như là một hệ thống có kết cấu chặt chẽ và có phân định về địa lý trong đó địa phương là nơi ý nghĩa được tạo ra và là nơi mà các cơ cấu xã hội được tái tạo.

(còn tiếp) 

Người dịch và hiệu đính: Lương Văn Hy

Nguồn: Hiện đại và động thái của truyền thống ở Việt Nam: Những cách tiếp cận nhân học – Q1 – NXB ĐHQG TPHCM

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s