Như vậy, xung quanh vấn đề tính chất của lợi ích, giữa các nhà khoa học theo quan điểm của chủ nghĩa Marx – Lenin hiện vẫn có nhiều ý kiến khác nhau: 1) một số tác giả cho rằng lợi ích là hiện tượng xã hội khách quan, 2) số khác lại cho rằng lợi ích chẳng qua là sự phản ánh chủ quan của nhu cầu tồn tại khách quan, 3) và số thứ ba lại khẳng định lợi ích là một hiện tượng thống nhất giữa chủ quan và khách quan.

Tình hình tương tự cũng diễn ra ở nước ta. Qua một số công trình được công bố gần đây, có thể thấy rằng ở nước ta cũng có những tác giả khẳng định lợi ích là một hiện tượng xã hội, tuy nó gắn bó hết sức chặt chẽ với nhu cầu, nhưng không phải là sự phản ánh chủ quan của nhu cầu, hay là một sự biểu hiện nào đó của nhu cầu. Trái lại, cũng có những tác giả khác lại khẳng định lợi ích là một hiện tượng chủ quan, là các nhu cầu khách quan được chủ thể nhận thức. Chúng tôi xin nêu dưới đây một số ý kiến tiêu biểu.

Theo tác giả Lê Xuân Tùng, “Lợi ích kinh tế là cái biểu hiện những động cơ, mục đích, những nhân tố kích thích khách quan thúc đẩy hoạt động lao động của con người. Lợi ích kinh tế gắn chặt với nhu cầu kinh tế, vì có nhu cầu mới có lợi ích. Nhưng sẽ là không đúng nếu đồng nhất nhu cầu với lợi ích kinh tế… Lợi ích kinh tế không phải là nhu cầu nói chung (như nhu cầu về ăn, mặc, ở…) mà là việc thỏa mãn nhu cầu một cách tốt nhất, bao gồm cả nội dung của nhu cầu và phương thức thỏa mãn nhu cầu. Vì suy cho cùng, cái thúc đẩy người ta hành động chính là nhằm thỏa mãn trên thực tế nhu cầu một cách tối ưu… Có người hiểu lợi ích kinh tế như là sự thống nhất giữa nội dung khách quan và hình thức chủ quan. Theo chúng tôi, lợi ích kinh tế là một phạm trù kinh tế khách quan, nó phát sinh và tồn tại trên cơ ở một quan hệ sản xuất nhất định, không tùy thuộc vào ý muốn con người… Lợi ích kinh tế tồn tại không tùy thuộc ở chỗ người ta có nhận thức được nó hay không, mà do địa vị của họ trong hệ thống sản xuất – xã hội quy định. Vì vậy, về bản chất phải khẳng định rằng, lợi ích kinh tế là tồn tại khách quan.

Tác giả Đào Duy Tùng khẳng định, “Lợi ích kinh tế là hình thức biểu hiện những quan hệ kinh tế, quan hệ giữa người và người trong sản xuất”.

Tác giả Vũ Hữu Ngoạn viết: “Nguồn gốc xấu xa của các động cơ kinh tế là ở chỗ: cuộc sống của con người bao giờ cũng có nhu cầu và đòi hỏi thỏa mãn nhu cầu. Dĩ nhiên không phải nhu cầu nào cũng làm cho con người theo đuổi, cũng trở thành động cơ. Có nhu cầu chưa thể có sự chín muồi để thực hiện, có những nhu cầu mang tính hiện thực. Những nhu cầu mang tính hiện thực phụ thuộc vào trình độ của phương thức sản xuất. Khi nhu cầu có điều kiện thực hiện thì trở thành lợi ích thiết thân của con người, thôi thúc con người vươn lên hành động giành cho kỳ được.

Điều cần nhấn mạnh là không phải bản thân nhu cầu là lợi ích kinh tế, mà nhu cầu khi được xác định về mặt xã hội mới trở thành lợi ích kinh tế. Lợi ích kinh tế là một phạm trù kinh tế khách quan, là hình thức biểu hiện trước hết các quan hệ sản xuất, nó không tùy thuộc vào ý chí, lòng ham muốn của con người.

Ý kiến này được phát triển thêm trong cuốn sách “Về sự kết hợp các lợi ích kinh tế” và Vũ Hữu Ngoạn và Khổng Doãn Hợi là đồng tác giả: “Khi nhu cầu có điều kiện thực hiện thì trở thành lợi ích thiết thân của người ta… Khi ấy nhu cầu được biểu hiện ở động cơ. Xem vậy thì lợi ích chính là những nhu cầu trở thành động cơ của hành động. Nói cách khác, nhu cầu, lợi ích, động cơ là sự thể hiện ở những nấc thang khác nhau của cùng một bản chất.

Cũng có thể nói, nhu cầu hiện thực là nội dung của lợi ích, hoặc nói lợi ích có tính vật chất. Cần nhấn mạnh: không phải mọi nhu cầu tự nhiên là lợi ích kinh tế, mà những nhu cầu được xác định về mặt xã hội mới trở thành lợi ích kinh tế. Lợi ích kinh tế có bản chất xã hội, nó mang quan hệ giữa người và người trong việc thỏa mãn nhu cầu ở những giai đoạn lịch sử nhất định.

Trong cuốn “Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam – Vấn đề nguồn gốc động lực”, tác giả Lê Hữu Tầng có một sự trình bày khá sâu sắc về vấn đề lợi ích. Theo ông: “Nhu cầu là những đòi hỏi của con người, của từng cá nhân, của các nhóm xã hội khác nhau hay của toàn xã hội muốn có những điều kiện nhất định để tồn tại và phát triển…

Nhu cầu nảy sinh do kết quả tác động qua lại của hoàn cảnh bên ngoài với trạng thái riêng của từng chủ thể, trong đó hoàn cảnh bên ngoài đóng vai trò quan trọng và trong phần lớn các trường hợp là quyết định. Và, ông viết tiếp: “Phương tiện thỏa mãn nhu cầu ấy, đối với chủ thể hành động chính là lợi ích. Vậy lợi ích gắn bó hết sức chặt chẽ với nhu cầu… Lợi ích không trùng với nhu cầu, nhưng nó cũng không hoàn toàn tách biệt với nhu cầu. Lợi ích, theo chúng tôi, là cái đáp ứng lại nhu cầu và vì lẽ đó nó chỉ có nghĩa là lợi ích khi được đặt trong mối quan hệ với nhu cầu… Xét về mặt bản chất, lợi ích chính là một quan hệ – quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng của thế giới bên ngoài với nhu cầu của chủ thể; còn về mặt nội dung, lợi ích là cái thỏa mãn nhu cầu, đáp ứng lại nhu cầu… Nhu cầu quyết định cái đối với chủ thể là lợi ích, do đó nó là cơ sở của lợi ích, còn lợi ích ngược lại, xuất phát từ nhu cầu, dựa trên nhu cầu, là sự thể hiện của nhu cầu…

Tính chất động lực của nhu cầu được thực hiện không phải một cách trực tiếp, mà thông qua khâu lợi ích, còn lợi ích là khâu trực tiếp hơn cả trong việc làm hình thành nên động cơ tư tưởng thúc đẩy con người ta hành động nhằm giành lấy cái thỏa mãn nhu cầu.

Nhất trí với quan điểm nêu trên, tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn viết: “Con người hành động là nhằm đạt được những cái để thỏa mãn nhu cầu. Nhu cầu của con người không phải chỉ có một, đó là cả một hệ thống từ nhu cầu vật chất đến nhu cầu tinh thần, từ nhu cầu sinh học đảm bảo cho sự tồn tại tự nhiên của con người đến nhu cầu về an ninh, tình cảm, nhu cầu hiểu biết và thẩm mỹ, thậm chí cả nhu cầu được kính trọng, được nổi tiếng. Dĩ nhiên, ở mỗi người mức độ các nhu cầu này có khác nhau, thậm chí ở cùng một người vào những giai đoạn, những thời điểm khác nhau mức độ bức thiết của các loại nhu cầu cũng không giống nhau tùy thuộc vào trạng thái cơ thể và sự tác động qua lại với điều kiện khách quan. Tuy nhiên, trước sau nhu cầu vẫn là một sức mạnh thúc đẩy con người hoạt động. Phương tiện để thỏa mãn nhu cầu là lợi ích, cho nên lợi ích quyết định hành vi, quyết định hoạt động của con người.

Sự trình bày vắn tắt trên đây cho thấy các tác giả Việt Nam cũng có rất nhiều ý kiến khác nhau khi bàn về lợi ích. Trong những năm đầu thập kỷ 80, đa số các tác giả tập trung nghiên cứu lợi ích kinh tế vì vào thời kỳ ấy, khi những dấu hiệu của cuộc khủng hoảng bộc lộ ngày càng rõ thì nghiên cứu lợi ích kinh tế nhằm tìm ra giải pháp cấp bách để thoát khỏi khủng hoảng là yêu cầu bức xúc. Càng về sau tình hình càng đòi hỏi phải nghiên cứu trên bình diện chung hơn – bình diện triết học – vì lợi ích kinh tế chỉ là một dạng của lợi ích và nó gắn bó mật thiết với nhiều dạng lợi ích khác. Chính vì thế, bắt đầu từ lợi ích kinh tế, các tác giả dần dần chuyển sang nghiên cứu lợi ích nói chung. Kết quả là đã có một số công trình được công bố, trong đó mỗi công trình, mỗi tác giả đều có những đóng góp của mình. Mặc dầu vậy, cho đến nay, một số vấn đề cơ bản như lợi ích là gì? Tính chất và vai trò động lực của lợi ích đó với sự hoạt động của con người nói riêng và sự phát triển của xã hội nói chung vẫn đang là những vấn đề gây tranh luận và cần được tiếp tục làm rõ hơn.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Linh Khiếu – Lợi ích, động lực phát triển xã hội – NXB KHXH 1999.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s