Đôi khi các nhà báo không chỉ chấp nhận những tuyên bố của quan chức mà còn thổi phồng chúng lên. Vào tháng 11 năm 2006, tin nổi bật gây hoang mang xuất hiện trên CNN.com: “Giám đốc cơ quan tình báo Anh lo ngại khủng bố hạt nhân”. Một bài báo trên New York cũng có một câu chuyện tương tự nhưng cụ thể và đáng báo động hơn. Bà Eliza Manningham-Buller, giám đốc MI5 cho biết, có khoảng 30 các âm mưu của bọn khủng bố có thể sử dụng các tác nhân hóa học, sinh học, các nhiên liệu phóng xạ và thậm chí là cả công nghệ hạt nhân”. Một cơ quan truyền thông của Canada trên kênh tivi của mình đưa tin này như sau: “Một cảnh báo tàn khốc của người đứng đầu ít khi xuất hiện từ cơ quan tình báo Anh MI5. Giám đốc cơ quan tình báo Anh nói cơ quan này biết những âm mưu của bọn khủng bố chống lại Anh, không chỉ là một hai, mà là 30 âm mưu. Một vài trong số đó liên quan tới các loại vũ khí hóa học và hạt nhân.

Chẳng có tuyên bố nào trên đây gần với sự thật cả. Trong một bài phát biểu trước công chúng, bà Eliza Manningham-Buller đã phác họa ra tình hình an ninh của Anh. Bà đưa ra con số chính xác về các vụ âm mưu và sau đó nói rằng, đó là bản chất của khủng bố: “Ngày nay, chúng ta nhìn thấy việc sử dụng các vũ khí phát nổ tự chế, hiểm họa ngày mai có thể là việc sử dụng các tác nhân hóa học và vi khuẩn học, nguyên liệu phóng xạ hay thậm chí là cả công nghệ hạt nhân”. Ẩn ý trong câu nói này là, hiện tại, MI5 chỉ có những bằng chứng bọn khủng bố sử dụng các “vũ khí phát nổ tự chế”. Phần còn lại là sự phỏng đoán. Nhưng các phương tiện thông tin đại chúng lấy một tuyên bố trống rộng biến nó thành một mối nguy hiểm sắp xảy ra.

Những lập luận phản bác trên các phương tiện truyền thông về khủng bố gần như thất bại hoàn toàn. Xem xét những nguyên nhân cơ bản như tại sao lại không có các trận tấn công của al-Qaeda vào Mỹ trong thời gian sau 11 tháng 09. Ít nhất, có ba phương án trả lời. Một, các biện pháp an ninh được thắt chặt và luật lệ được tăng cường đã cản trở al-Qaeda. Hai, al-Qaeda không lựa chọn những lý do như Bin Laden để tấn công Mỹ. Ba, al-Qaeda muốn nhưng thiếu lực để có thể thâm nhập sâu vào trong nước Mỹ. Câu trả lời đầu tiên luôn được nhắc tới trên các phương tiện truyền thông. Câu trả lời số hai ít hơn nhiều. Và câu trả lời số ba hầu như chẳng bao giờ được đề cập tới, dù là với xác suất nhỏ nhất. Roger Cohen – phóng viên của International Herald Tribune đã viết trên New York Times: “Nước Mỹ đã thoát khỏi vụ tấn công đó trong sáu năm bởi vì nước Mỹ khó mà tấn công được, không phải bởi vì giờ đây rất khó để tấn công nước Mỹ. Trong suy nghĩ của Cohen đơn giản chỉ là Không Có Cửa Thứ Ba.

Rõ ràng là chính phủ đã nhận được sự nghi ngờ chỉ trích từ phía báo giới nhưng trong thời gian trôi qua, những người nghi ngờ này nhận ra rằng, thật hợp lý để mối lo về khủng bố ngày càng lớn và tăng cao. Cuối cùng, Tổng thống là một người của Đảng Cộng hòa, và Quốc hội thì, vào cuối năm 2006 vẫn là đảng Cộng hòa chiếm đa số. Đảng viên đảng Cộng hòa đã tiến hành cuộc chiến tranh tại Iraq mà họ tuyên bố rằng, đó chính là chìa khóa để đánh bại chủ nghĩa khủng bố. Vì thế, nếu chủ nghĩa khủng bố là một mối đe dọa ngày càng tăng, thì đó là lỗi của Đảng Cộng hòa. Maureen Dowd – một biên tập viên phụ trách một chuyên mục chính trên tờ New York Times vào tháng 07 năm 2007 đã nói: “Chúng ta ngày càng nhạy cảm với bọn khủng bố hơn bao giờ hết”. Cuối cùng thông điệp của Tổng thống là “chết hay sống sót”, “chúng ta có thể là những người cuối cùng chết”.

Đồng nghiệp của Dowd tại New York Times, Frank Rich, cảnh báo vào tháng 02 năm 2007 rằng, tình huống trở nên nghiêm trọng đến nỗi các chuyên gia bắt đầu đưa ra những cá cược tuyệt vọng với công chúng: hãy kêu gọi sự chú ý của Nhà Trắng. Rich viết: “Micheal Scheuer, giám đốc cũ của CIA phụ trách nghiên cứu về Bin Laden, nói với Keith Olbermann tuần trước rằng, quân Taliban và al-Qaeda đang tập hợp nhau lại tại Afghanistan và Pakistan, “chuẩn bị phát tán vũ khí hạt nhân bên trong nước Mỹ”. Micheal Scheuer là tác giả của nhiều cuốn sách gây xôn xao dư luận và là một nhà bình luận sắc sảo đã tham gia chương trình truyền hình đó. Tuyên bố của ông là một lời bình luận thành công được đặt ở cuối của buổi phỏng vấn. “Chúng ta đang đối xử với kẻ thủ Hồi giáo của chúng ta nhẹ hơn nhiều so với việc chúng ta cần phải”. Scheuer đã nói: “Chúng ta nghĩ rằng sẽ bắt được chúng, từng người một. Những người này sắp sửa phát tán loại vũ khí hạt nhân bên trong nước Mỹ, và chúng ta lại chẳng có gì để chống lại việc đó. Sẽ là một tình huống độc nhất vô nhị cho một siêu cường, và chúng ta chẳng thể trách móc ai ngoai trách chính bản thân mình”. Người dẫn chương trình cảm ơn Scheuer và kết thúc bài phỏng vấn ở đó. Scheuer không đưa ra một bằng chứng nào để ủng hộ cho lời nhận xét ngắn gọn của ông, và Rich lại lấy lời bình luận đó như là một bằng chứng đáng tin cậy của một thảm họa khủng khiếp – chẳng chút sự thật nào ngoài việc Scheuer đã từng làm việc cho CIA để củng cố cho lập luận của mình. Trớ trêu ở chỗ, vào năm 2002 và 2003, khi chính quyền đang giải quyết vụ Saddam Hussein có vũ khí hủy diệt hàng loạt khiến Mỹ vô cùng lo lắng – với các bằng chứng do CIA cung cấp – Frank Rich đã kiểm chứng bằng chứng này, thấy rằng nó là rất ngây ngô, và lên án kịch liệt những già nah cảm thấy là một “nỗ lực tàn nhẫn” dọa nạt công chúng để ủng hộ cho việc đưa quân vào Iraq. Nhưng vào năm 2007, chính giới đã thay đổi, và vì thế tiêu chuẩn của Rich về những vấn đề này cũng thay đổi, đó là những bằng chứng đáng tin cậy.

Tuy vậy, những yếu tố này dù quan trọng, chúng chỉ nằm trên bề mặt. Ở dưới, chuyển động giống như là những tầng địa lý, rằng chúng ta sẽ thấy lực lượng thực sự thúc đẩy sự thổi phồng của truyền thông.

Mọi người sợ hãi. Nhận thức của họ nói với họ rằng cần sợ hãi, chính quyền Bush nói họ cần sợ hãi, nên sợ hãi, họ muốn biết nhiều hơn. Các nhà báo, biên tập viên, và những nhà sản xuất chia sẻ cảm giác này. Sau tất cả, cộng đồng lắng nghe những tuyên ngôn của Tổng thống, và xử lý với những nhận thức giống nhau, với sự nhất trí cao độ rằng chủ nghĩa khủng bố là mối đe dọa nguy hiểm và ngày càng tăng cao.

Với niềm tin đó, thái độ thiên kiến khẳng định càng ngấm sâu. Thông tin trái chiều với những gì mọi người tin tưởng – số liệu các vụ tấn công, những con số thương vong, những bảng so sánh rủi ro, và sự thất bại của nhóm Aum tại Nhật Bản, những âm mưu khủng khiếp chẳng bao giờ thành hiện thực – nhận được rất ít sự quan tâm. Những họ (các nhà báo) bám chặt lấy bất kỳ cái gì khiến họ khẳng định thêm những gì mọi người tin là sự thật và đưa nó lên cỗ máy truyền thông.

Chắc hẳn, điều này làm vững chắc thêm quan niệm của dân chúng về chủ nghĩa khủng bố. Đối với giới truyền thông, những cuộc tấn công thực sự và những âm mưu – ở bất kỳ một quy mô hay mức độ phức tạp nào – chứng minh rằng, chủ nghĩa khủng bố là mối đe dọa chết chóc và ngày càng tăng cao. Ngay khi không có những cuộc khủng bố và những âm mưu. Ngay cả những cuộc tấn công tưởng tượng còn gợi ra điều đó. Điều không bao giờ được xem xét ở đây chính là xác suất chủ nghĩa khủng bố không phải là mối đe dọa chết người.

Các chính trị gia và công chúng mắc kẹt trong sự thiên kiến dần tạo ra một niềm tin vững chắc, củng cố nỗi sợ hãi. Các phương tiện truyền thông giải trí cũng góp phần. Chẳng có đề tài nào về mối đe dọa cho phim ảnh thích hợp hơn là chủ nghĩa khủng bố, và vì lý do này đã trở thành đề tài của tiểu thuyết, phim, và các chương trình tivi trong hàng thế kỷ. Sau vụ ngày 11 tháng 09, với nỗi sợ hãi về chủ nghĩa khủng bố tăng cao, hình ảnh của các nhân viên, chính phủ cố gắng đấu tranh mạnh mẽ để ngăn chặn một kẻ âm mưu đang giận dữ tấn công Los Angeles bằng vũ khí hạt nhân – đáng chú ý nhất trong các chương trình truyền hình trên kênh 24 – trở thành một chương trình truyền hình thu hút nhiều khán giả.

Khía cạnh đang lo ngại nhất của những chương trình giải trí này là sự mập mờ ngày càng tăng giữa những tác phẩm hư cấu và sự thật. “Năm năm sau, ngày 11 tháng 09 trở nên khô héo trong tâm trí người Mỹ” – là câu mờ đầu cho một đoạn quảng cáo cho loạt chương trình Showtime mang tên Sleeper cell: American Terror (Phòng ngủ: Nỗi kinh hoàng của người Mỹ). Người phát ngôn chính là Tổng thống Mỹ Bush đang truyền tải thông điệp kỷ niệm sự kiện ngày 11 tháng 09. Ông nói: “Ngày hôm nay chúng ta an toàn hơn, nhưng chúng ta vẫn không hoàn toàn an toàn”. Cảnh những lá cờ, những thành phố xuất hiện và tối đen. Sau đó là đến hình ảnh khói bụi mù mịt và âm thanh – một người đàn ông bắn súng, một ai đó bị tra tấn, người khác thì đang thì thầm gấp gáp. “Một vụ tấn công hạt nhân…” và cuối cùng là một hình ảnh cảnh báo hiện lên “Cuộc tấn công tiếp theo có thể ở bất kỳ nơi nào”.

Mọi thứ chúng ta biết về nguy cơ đều cho thấy, đống hổ lốn này độc hại cho cả Cái Đầu lẫn Cái Bụng. Đối với Cái Đầu, đây thực sự là những thông tin sai lệch. Một trung tâm ngăn ngừa bệnh dịch cảm thấy cần phải đưa ra một bảng phân tích giải thích rằng, đậu mùa không phải giống như giới truyền thông nói, là không thể khống chế, hay như nó được mô tả trên các chương trình tivi. Đối với Cái Bụng, hình ảnh bạo lực và cảm xúc tiềm ẩn thúc đẩy những phán xét trực giác. Như chúng ta đã thấy, quan niệm của mọi người về thay đổi khí hậu được thúc đẩy một cách đáng kể khi xem The Day After Tomorrow. Nếu một bộ phim không hợp lý về một nguy cơ có thể làm thay đổi quan niệm của mọi người như vậy, thì những bộ phim hành động tiết tấu nhanh về một mối nguy hiểm đầy xúc cảm và bản năng như những bộ phim về khủng bố còn làm được nhiều hơn rất nhiều.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Dan Gardner – Nguy cơ, khoa học & chính trị về nỗi sợ hãi – NXB LĐ-XH 2008.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s