Chuyển đổi và khả năng chuyển đổi được

Khả năng chuyển đổi của tiền [để lấy được cái khác] là một cách giúp cho người ta giữ vững niềm tin vào tính phổ quát của tiền. Trong thế kỷ 20, nguồn gốc của giá trị của tiền đã bị thay đổi rất nhiều. Trong việc đảm bảo giá trị cho tiền, người ta không còn dùng hai kim loại quý như đã làm vào đầu thế kỷ XX. Trong chế độ [tài chính] Bretten Woods, khả năng chuyển đổi của đồng đôla Mỹ và tỷ giá cố định trong việc chuyển đổi các loại tiền đã được thể chế hóa. Việc phá đi chế độ này đã làm cho tỷ giá lúc lên lúc xuống. Từ thập niên 1980, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), trong chương trình điều chỉnh cơ cấu kinh tế, đặt ra mục tiêu là tiền phải chuyển đổi được. Thuật ngữ “điều chỉnh cơ cấu” [như Quỹ Tiền tệ Quốc tế áp đặt] thường không được sử dụng để mô tả quá trình cải cách ở Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam thường được coi là người đưa ra quá trình Đổi Mới. Tuy nhiên, quá trình điều chỉnh cơ cấu rộng lớn hơn [như Quỹ Tiền tệ Quốc tế nhấn mạnh] có thể được kết nối với các quá trình cải cách kinh tế ở Trung Quốc và Việt Nam. Những đặc điểm của quá trình này bao gồm thu hút đầu tư nước ngoài, đưa ra những chính sách tài khóa chặt chẽ hơn, tăng cường quyền sở hữu tài sản của tư nhân, và cải cách hệ thống thuế (Babb 2005).

Các học giả đã lập luận là tiền được vận hành tốt nhất khi người ta xem nó là một phần mặc nhiên của cuộc sống. Tuy nhiên, ở Thành phố Hồ Chí Minh, những ý nghĩa của đồng tiền đã được sản sinh và tái tạo không phải là trong một hệ thống văn hóa cô lập và có làn ranh rõ rệt. Những cải cách tiền tệ liên tục làm cho người ta phải lưu ý đến việc kiến tạo tiền tệ. Hơn thế nữa, việc người ta hiểu về tiền như thế nào không thể tách rời khỏi những trải nghiệm cá nhân về sự mất mát. Ở miền Nam Việt Nam sau năm 1975, rất nhiều ngân hàng bị đóng cửa và có một chiến dịch bất ngờ thu tiền mặt mà chính phủ Sài Gòn ngày trước đã phát hành. Vào đầu thập kỷ 1980, nhiều đơn vị không thể cung cấp nhu yếu phẩm cho các hộ, đưa đến việc Nhà nước tăng lượng tiền mặt trong lương. Người tiêu thụ lo gánh nặng của việc giá cả tăng lên. Năm 1985, Nhà nước lại có một chiến dịch bất ngờ để loại những tích trữ tiền mặt mà Nhà nước xem là bất hợp pháp, đưa đến lạm phát rất cao. Cuộc cải cách này được xem là mở một cách cửa đưa đến sự thay đổi chính sách vào năm 1986. Trong bối cảnh đồng tiền Việt Nam bị mất giá, người ta tìm đến những loại tiền đáng tin cậy hơn.

Khả năng chuyển đổi của tiền tệ là một cải cách mấu chốt cho nền kinh tế Việt Nam. Nhà nước cho phép người dân mở tài khoản bằng ngoại tệ có lãi, và cũng cho phép các tiệm vàng mua và bán ngoại tệ. Những quyết định này tác động đến trải nghiệm tiền tệ của người dân. Đến năm 1991, gần 40% số tiền trong các tài khoản được gửi bằng đồng đôla Mỹ. Giá trị đồng Việt Nam sau đó được ổn định trở lại, phần lớn nhờ có một hệ thống tiền tệ mà đồng đôla Mỹ được dùng như một loại tiền tệ lưu hành bán chính thức.

Đồng đôla Mỹ hiện nay được dùng như là một loại tiền tệ song hành với đồng Việt Nam ở Việt Nam, và đôla Mỹ làm cấu nối trong quan hệ trao đổi không những với thế giới bên ngoài mà còn cả trong nền kinh tế trong nước. Xu hướng này không phải chỉ có ở Việt Nam. Ở những nền kinh tế quá độ ở Đông Âu và châu Mỹ Latinh, đồng đôla Mỹ cũng được dùng như thế. Sự cạnh tranh giữa đồng đôla Mỹ và đồng Việt Nam đã đưa đến việc Ngân hang Nhà nước Việt Nam phát hành một loại tiền chất lượng cao hơn. Vào năm 2003, tiền mới với một số loại có giá trị cao hơn và được in trên giấy polymer và plastic đã được phát hành.

Ở Thành phố Hồ Chí Minh, các loại tiền khác nhau được mua và bán có phần hợp pháp ở nhiều nơi: tiệm vàng, khách sạn, và quầy đổi tiền. Những loại tiền này có thể được chuyển đổi, nhưng không phải lúc nào cũng tương thích. Chúng có những lịch sử cụ thể và vòng luân chuyển trao đổi cụ thể. Chúng ta cần cung cấp thêm chi tiết nhân học để trả lời câu hỏi tại sao và bằng cách nào người ta phân biệt các loại tiền này.

Người ta dùng đồng Việt Nam trong những giao dịch hàng ngày. Nhưng họ thích giữ tài sản dưới dạng vàng chỉ miếng và đôla Mỹ, đặc biệt là tờ 50 và 100 USD. Để mua những mặt hàng lớn – xe máy, nhà, và đất – người ta cũng sử dụng đôla và vàng vì những loại tiền tệ này là “tiền to”. Sự lưu hành tiền đồng Việt Nam, đôla Mỹ, và thỏi vàng là một sự đối nghịch (confrontation) giữa các hệ thống giá trị có tính cạnh tranh – của Nhà nước, thị trường quốc tế và hộ gia đình, mặc dù khả năng chuyển đổi [giữa các hình thái tài sản này] làm lu mờ đi sự đối nghịch này. Trong khi đồng Việt Nam ra đời trong cuộc cách mạng; đôla Mỹ là dấu hiệu của thị trường, mang tính phổ quát và không biên giới. Như các học giả đã lập luận (Helleiner 2003), tiền mang dấu ấn của nhà chức trách phát hành tiền. Khi lưu hành, tiền cho thấy quyền lực của nhà nước. Giá trị biểu trưng của tiền đồng Việt Nam bắt nguồn từ việc người ta quen thuộc với nó và nó được chấp nhận trong lãnh thổ Việt Nam. Đồng đôla Mỹ đã kích thích sự quan tâm đến tiền, một quan tâm mà chỉ tiền đồng của Việt Nam không thôi thì không kích thích được. Động lực này có liên quan đến điều mà James T. Siegel đã gọi là “sự cảm nhận về những khả hữu, dù có khả thi hay không, mà những cái ngoại lai kích thích trong chúng ta” (1997: 147), (sense of possibilities, unrealizable or not, which the unincorporated foreign stimulates). Ngược lại, trong quá khứ cũng như hiện nay, vàng được dùng để mua đất và người ta giữ nó ở nhà.

Trong những phần tiếp theo của bài này, tôi khảo sát ba thí dụ cụ thể về những chuyển đổi giá trị: đôla hó, kinh tế quà cáp, và máy rút tiền tự động (ATM). Khi thảo luận về đôla hóa, tôi xem xét đến hậu quả xã hội của việc nới lỏng những kiểm soát ngoại tệ, và qua kinh tế quà cáp tôi xem xét đến việc người ta đã chuyển đổi quan hệ qua tiền bạc như thế nào. Qua thí dụ về sự khuếch trương của các máy rút tiền tự động (ATM), tôi xem xét đến những tiến trình và sắp xếp thể chế mà qua đó tiền được định nghĩa (defined) và điều tiết (regulated). Qua ba thí dụ này, tôi lập luận là những hành động chuyển đổi này có thể gắn kết thiết yếu đến những quan niệm đang được thay đổi về con người, xã hội, và nền kinh tế.

Đôla là để giữ

Tờ đôla Mỹ là một trong những biểu tượng rõ nhất của việc tự do hóa thị trường ở Việt Nam. Mặc dù các học giả cũng đã cảnh báo rằng nước Mỹ đang khống chế chưa từng thấy các tổ chức quốc tế, những tổ chức đang điều tiềt các dòng chảy quốc tế của nguồn vốn, ngân hàng và thương mại (Arigghi et al 1999), chúng ta cũng nên diễn giải ý nghĩa của đồng đôla trong những điều kiện lịch sử cụ thể. Sự phổ biến của đồng đôla trong nền kinh tế Việt Nam cho thấy là tiền tệ không thể chỉ được định nghĩa trong khuôn khổ của quốc gia. Ở Thành phố Hồ Chí Minh, đôla hóa cũng là hệ quả của việc nới lỏng quản lý ngoại tệ và di dân nhiều. Hiện tượng đôla hóa trong nền kinh tế Việt Nam cung cấp cho chúng ta một trường hợp điển cứu rất quan trọng (compelling) về dòng người theo một hướng và dòng tiền theo hướng ngược lại.

Nghiên cứu nhân học cho thấy là ngay cả khi tiền không bị nhà nước kiểm soát chặt chẽ thì tiền vẫn chảy theo một dòng chảy được tổ chức theo mạng lưới thân tộc mở rộng và những kênh tái phân phối khác. Ở miền Nam Việt Nam, nhiều người nhận đôla từ họ hàng sống ở nơi khác, qua những kênh phân phối không do nhà nước điều tiết (xem thảo luận của Beresford và Đặng Phong [Beresford và Dang 2000] về vai trò của đòng đôla Mỹ và về mạng lưới ở Đông Âu và Liên Xô). Trong khi người ta sử dụng đồng đôla khi mua những mặt hàng đắt tiền như xe máy hay nhà ở, một vài người vẫn nhấn mạnh đôla là để giữ chứ không phải để tiêu đi. Phát biểu như thế này có phần tương đồng với những nhận định trong nhân học là những nguyên tắc về vai trò xã hội của con người (personhood) được phản ánh qua quan hệ đổi chác [quà]. Annette Weiner (1992) cho thấy là một số vật quý giá không được lưu hành, phản ánh cái mà bà gọi là một hiện tượng nghịch lý “cho/tặng nhưng giữ lại”. Người ta phân biệt những vật quý giá này với những món hàng hóa, vì những vật quý giá này biểu đạt một bản sắc của tập thể. Thế thì đồng đôla không được lưu hành , vì được chôn dưới đất, giữ trong két sắt an toàn, hay được xếp kín đáo trong phong bì, có phải là những vật quýgiá không thể chuyển nhượng được?

Tích lũy [tiền và tài sản] cũng có liên quan đến bản ngã xã hội. Nhưng khác với cái nghịch lý mà Weiner đã thảo luận, đây là một hành động của cá thể để chuyển giá trị trong trao đổi thành quyền lực cá nhân (xem Marx 1977). Người ta có thể nhận được quà là đồng đôla, người ta xem đồng đôla là một loại tiền toàn cầu và nguồn gốc của giá trị của nó nằm ngoài vòng kiểm soát của Nhà nước. Ở góc độ này, thì đồng đôla đại diện cho thế giới không còn ranh giới. Nó kéo người ta vào một hệ thống tiền tệ toàn cầu với những bất bình đẳng của nó.

(còn tiếp) 

Người dịch và hiệu đính: Lương Văn Hy

Nguồn: Hiện đại và động thái của truyền thống ở Việt Nam: Những cách tiếp cận nhân học – Q1 – NXB ĐHQG TPHCM

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s