Tất nhiên là những chi phí này không chỉ giới hạn ở nước Mỹ. Các cuộc tấn công ngày 11 tháng 09 đã làm thay đổi những mối ưu tiên ở các nước phát triển. Chẳng hạn những thay đổi về tiêu chuẩn an ninh của Mỹ cũng đã trở thành những tiêu chuẩn quốc tế vì những tàu chuẩn bị cập cảng vào Mỹ nếu không đáp ứng các tiêu chuẩn đó sẽ phải bị trục xuất. Trên phạm vi toàn cầu, chi phí vô hình cho những nỗ lực chống khủng bố là không thể tính toán nhưng chắc là rất nhiều mặc  dù chi phí trực tiếp để chống khủng bố cũng đã tăng lên mức đáng kể sau vụ 11 tháng 09 có lẽ chi phí chống khủng bố trên toàn thế giới là rất lớn.

Điều này có đáng không? Liệu chi phí này có tương xứng với sức hút từ mối đe dọa khủng bố? Cách duy nhất để trả lời cho câu hỏi đó hợp lý là bằng một “cuộc phân tích lợi ích và chi phí”. Nói đơn giản tức là xem xem những lợi ích thu được từ một chính sách nào đó có cao hơn chi phí bỏ ra cho nó hay không và dành ưu tiên cho những biện pháp nào. Điều này nghe có vẻ lạnh lùng và máy móc quá, nhất là khi sinh mạng con người đang bị đe dọa. Nhưng chúng ta chỉ có một lượng tiền nhất định, cũng như có một số mối đe dọa nhất định đối với con người: Để đảm bảo việc sử dụng tiền của mang lại hiệu quả tối ưu thì việc phân tích giữa chi phí lợi ích cũng là cần thiết.

Thật không may là chi tiêu dành cho chủ nghĩa khủng bố không bao giờ phải tuân theo sự phân tích giữa chi phí lợi ích và chúng ta chỉ có thể tưởng tượng về kết quả của một cuộc phân tích như thế. Nguy cơ của chủ nghĩa khủng bố chắc chắn là có thật. Và nguy cơ mang tính hủy diệt của chủ nghĩa  khủng bố dù không cao như chúng thường được mô tả song cũng là có thật. Chúng ta chỉ có thể thận trọng giả định rằng nếu các chính phủ không làm gì để chống lại chủ nghĩa khủng bố thì nó sẽ ngày càng gia tăng và sẽ có thêm nhiều sinh mạng mất đi. Vì vậy, không cần phải hỏi xem liệu có thể điều chỉnh lại khoản chi phí khổng lồ này theo cách phân tích giữa chi phí và lợi ích hay không. Nhưng cũng thật khó mà tin rằng, cán cân chi tiêu hiện nay có thể đứng vững mãi.

Chỉ riêng trong nước Mỹ cũng có rất nhiều thứ để so sánh. Chẳng hạn như có khoảng 14% người Mỹ không được bảo hiểm y tế tức là 14 triệu người; 9% trẻ em ở Mỹ, tức là 6,5 triệu trẻ, không được bảo hiểm. Năm 2004, Viện Y học, một cơ quan thuộc Viện Khoa học Quốc gia, đã đưa ra một báo cáo cho thấy việc không được bảo hiểm y tế đã khiến “mỗi năm ở Mỹ có 18.000 người chết một cách không đáng”. Gấp 6 lần số người chết do vụ 11 tháng 09. Về chi phí tài chính, một ban trong Viện Y học đã kết luận rằng, nhiều người không có bảo hiểm y tế đã làm nước Mỹ mất đi mỗi năm từ 60 tỷ đến 130 tỷ USD.

Một so sánh khác: Theo Trung tâm Phòng ngừa và Kiểm soát Dịch bệnh (CDC), “hàng trăm ngàn” người chết ở Mỹ mỗi năm do “chỉ có gần một nửa số người Mỹ được hưởng các dịch vụ y tế dự phòng tốt nhất”.

Chi phí mở rộng được bảo hiểm y tế và khả năng tiếp cận với các dịch vụ y tế dự phòng cho tất cả người dân Mỹ còn tùy thuộc rất nhiều vào các quy trình phức tạp liên quan. Chắc chắn là cũng rất cao, một khoản chi phí tính bằng hàng chục tỷ USD mỗi năm. Nhưng với số người được cứu sống và những chi phí có thể được hoàn lại, có thể nói rằng, cả hai chính sách này đều hiệu quả hơn cuộc chiến chống khủng bố nếu phải phân tích về chi phí và lợi ích. Thế nhưng, cả đảng Cộng hòa và đảng Dân chủ đều không dám lám một cuộc so sánh giữa những khoản chi phí này. Trong ngân sách chính phủ năm 2008, chi phí cho các hoạt động chống khủng bố vẫn tăng lên trong khi ngân sách dành cho CDC lại bị cắt giảm, khiến cơ quan này phải bỏ đi một chương trình y tế dự phòng trị giá 100 triệu USD.

Trên phạm vi toàn cầu còn có nhiều điều có thể so sánh nữa khiến ta nghi ngờ tính đúng đắn trong chi tiêu chống khủng bố hiện nay. Bệnh sởi làm chết 300.000 trẻ em mỗi năm trong khi vắcxin phòng chống bệnh này chỉ mất 16 cent một mũi. Hơn 1,6 triệu trẻ em đang bị chết vì tiêu chảy. Năm 1988, bệnh bại liệt đã làm 1000 trẻ em bị tàn tật mỗi ngày và một chiến dịch trị giá 3 tỷ USD đã gần như loại bỏ được loại virus này vào năm 2003 nhưng khi hết tiền, dịch bệnh này quay trở lại 27 nước.

Năm 2004, nhà khoa học chính trị Bjorn Lomborg của Đan Mạch đã kêu gọi một loạt các chuyên gia từ khắp thế giới để trao đổi xem thảm họa nào có thể được giải quyết hiệu quả nhất trên thế giới xét về mặt chi phí. Người ta đã trao đổi về rất nhiều vấn đề và đưa ra được một danh mục thứ tự ưu tiên. Đứng đầu là việc kiềm chế đại dịch HIV/AIDS. Lomborg viết trong cuốn How to Spend $50 Billion to Make the World a Better Place (Làm thế nào để dùng 50 tỷ USD để cải thiện thế giới) rằng: “Với một khoản chi 27 tỷ USD, có thể ngăn ngừa được khoảng 28 triệu trường hợp mắc bệnh vào năm 2010”. “Hiệu su61t giữa lợi ích và chi phí dự đoán có thể cao hơn thế 40 lần”.

Sốt rét cũng được xếp ở thứ hạng cao trong Copenhagen Consensus. Căn bệnh này làm chết khoảng một triệu người mỗi năm, chủ yếu là trẻ em châu Phi và làm tiêu hao của các nền kinh tế châu Phi 12 tỷ USD mỗi năm, Jeffrey Sachs, một nhà kinh tế học nổi tiếng đồng thời là một chuyên gia về phát triển, đã ước tính bệnh sốt rét có thể khống chế được với một khoản chi phí từ 2 đến 3 tỷ USD mỗi năm. Vậy đây chính là một điển hình cho thấy, chúng ta có thể cứu sống được hàng triệu sinh mạng và tiết kiệm được hàng tỉ USD chỉ với một khoản ngân sách hàng năm tương đương với 5% số tiền mà năm 2007 Mỹ dành ra để chống khủng bố. Thế nhưng, Liên hợp quốc chỉ dành ra 220 triệu USD cho chương trình sốt rét ở châu Phi còn Ngân hàng Thế giới đã cam kết dành từ 500 triệu đến 1 tỷ USD trong giai đoạn 5 năm. Năm 2005, Tổng thống Bush được ca ngợi vì đã đề ra “Sáng kiến sốt rét của Tổng thống” nhưng chỉ với 240 triệu USD mỗi năm trong vòng 5 năm. Và vì vậy, mỗi năm bệnh sốt rét có thể tiếp tục giết chế một số người nhiều hơn 67 lần so với 15000 người bị giết hại bởi chủ nghĩa khủng bố quốc tế trong bốn thập kỷ qua.

Tất cả cũng chẳng là gì. Chỉ là sản phẩm của “nỗi sợ hãi vô lý” mà Franklin Roosevelt đã cảnh báo từ năm 1933, khi trật tự kinh tế đang sắp sửa sụp đổ và trật tự chính trị có vẻ cũng sắp bị đổ theo. Chủ nghĩa phát xít và bóng đen chiến tranh đang bao trùm lên. Thời kỳ đó còn ảm đạm hơn thời của chúng ta bây giờ rất nhiều, nhưng Roosevelt vẫn bình tĩnh. Ông nói trong bài diễn văn nhậm chức của mình “Đất nước vĩ đại này sẽ chống chịu được như đã từng chống chịu, rồi sẽ hồi sinh và thịnh vượng” – nếu chúng ta không để cho “nỗi sợ hãi không tên, khó hiểu và vô lý” dẫn dắt suy nghĩ và hành động của mình.

Bằng lời nói và hành động của mình, Roosevelt đã trấn an nước Mỹ và đưa đất nước này ra khỏ nỗi sợ hãi tiêu cực. Ông đã để lại một đất nước mạnh hơn và tự tin hơn. Cũng bằng lời nói và hành động của mình, người kế nhiệm của Roosevelt trong Phòng Bầu dục đã làm điều ngược lại và mang đến một đất nước sự yếu hèn và sợ sệt.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Dan Gardner – Nguy cơ, khoa học & chính trị về nỗi sợ hãi – NXB LĐ-XH 2008.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s