Đảng Cộng sản Liên Xô đầu những năm 80

Ngoài những lời tung hô châm biếm và bôi nhọ thực tế Lenin, cuối thập niên 70 còn xuất hiện yếu tố mới. Đó là sự thiếu thông tin thực tế và thậm chí thường là thiếu ý nghĩa trong các lời phát biểu, tranh luận công khai. Những “tác phẩm” trống rỗng về nội dung của những người “Leninnist” (như họ tự gọi mình) Breznhev, Suslov, Podgornưi, Chernhenko được in ấn hàng triệu bản, được nghiên cứu trong mạng lưới tuyên truyền của Đảng. Tới lúc này “tiến trình đã khởi động”, tức là sự thay đổi trong Đảng đã trở nên rõ hơn. Xuất hiện triệu chứng tan rã trong Đảng, thoái hóa trong chóp bu. Các nhà tư tưởng ủng hộ các ông già, những người trở thành không thể thay thế được. Breznhev tới đầu thập niên 80 trở thành nhân vật của những câu chuyện kinh ngạc. Trong lần tới thăm Baku, trong bản báo cáo ông đọc người ta quên không bỏ đi một tờ in thừa, và ông đã đọc nó hai lần. Ham muốn nhiều huân chương của Breznhev trở thành câu chuyện đầu lưỡi (“Nhưng năm ngôi sao vẫn tốt hơn”). Trên khắp lãnh thổ Azerbaizan treo đầy biểu ngữ với câu của Breznhev: “Xôviết Azerbaizan bước rộng! Breznhev”. Một trong các tác giả đi tàu hỏa từ Baku tới Astar và đếm được gần chục cái như vậy. Quan chức Đảng già nua Chernhenko sống dở chết dở từng nổi tiếng là một nhà Leninnist vĩ đại.

Trong mạng lưới giáo dục Đảng, trong tất cả các trường đại học đều nghiên cứu “tác phẩm” của Tổng Bí thư, văn kiện đại hội, bao gồm những khuôn mẫu, trong đó trình bày đủ thứ ý nghĩa sống động. Vào thời đó người ta vào Đảng là vì danh vọng, công khai và chẳng giấu diếm. Tất cả những bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo của bí thư tổ chức Đảng đều tiến hành từ bên trên. Trong các cơ quan khoa học vào đầu thập niên 80, số trí thức được kết nạp vào Đảng Cộng sản Liên Xô giảm đột ngột. Hình thành một sự xếp hàng dài để vào Đảng. Xuất hiện nhiều lời than phiền về việc có chen ngang, chậm trễ. Đảng được sử dụng như phương tiện để đạt tới những mục đích cá nhân. Trong các cơ quan của Viện hàn lâm khoa học, trong một số Hội đồng khoa học, các quyết định trước hết được đưa ra trong tổ Đảng, được biểu quyết nhất trí. Tức là 25% số người kề cận với lãnh đạo có thể thông qua trong Hội đồng khoa học bất cứ quyết định cần thiết nào. Thậm chí trong những cuộc họp Đảng thông thường, lời phát biểu phải chuẩn bị trước và đọc lên.

Thấy được toàn cảnh những gì xảy ra trong Đảng, rất nhiều người ủng hộ thật lòng CNXH đã không vào Đảng. Trên thực tế đã xóa nhòa sự khác biệt về quan điểm giữa đảng viên và không đảng. Quá trình phân hóa Đảng Cộng sản Liên Xô do các nhà tư tưởng hướng dẫn đã khởi động.

Dù vậy, cho tới đầu thập niên 80, Đảng vẫn còn là một lực lượng hùng mạnh. Chi bộ vẫn là nơi mà người ta nhờ cậy tới khi có bất công. Đây là một cỗ máy hoạt động tốt. Đảng vẫn giữ vai trò trụ cột Nhà nước của mình. Tới thập niên 90 người ta vẫn nói: “Thời ấy người ta còn trả lương, và không có thất nghiệp”.

Ianus hai mặt

Nhiệm vụ trung tâm phá hoại Liên Xô được quyết định trên mặt trận tư tưởng. Cơ sở chính của nó là tách phần đông người dân khỏi lý tưởng CSCN, biến chủ nghĩa Marx – Lenin thành công cụ chôn vùi khoa học xã hội, thành vũ khí chống CNXH.

Bắt đầu từ những năm sau chiến tranh, trong nước có một hệ thống giáo dục chính trị ở các cấp rất mạnh. Trong các trường đại học người ta giảng lịch sử Đảng, Chính trị kinh tế học, chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, Chủ nghĩa Cộng sản khoa học. Hàng loạt các cơ quan tư tưởng được thành lập. Ví dụ như: Học viện khoa học xã hội trực thuộc Ủy ban Trung ương Đảng, Viện Marx – Engels – Lenin, Viện phong trào công nhân thế giới, các trường đại học chủ nghĩa Marx – Lenin. Hình thành cả một khối tư tưởng bao gồm bộ môn lịch sử Đảng và chủ nghĩa Marx – Lenin trong mỗi một trường đại học. Cần phải bắt toàn bộ hệ thống tư tưởng này làm việc chống lại đất nước mình. Trong nửa thế kỷ, chủ nghĩa Marx ở thế tấn công. Nó thể hiện khách quan đặc điểm của thời kỳ đó, và đã đạt tới mức một phần ba thế giới đứng dưới ngọn cờ CNXH. Để vô hiệu hóa và sử dụng chủ nghĩa Marx vào mục đích của mình, các nhà tư tưởng thực hiện những hành động sau:

1/ Đóng hộp chủ nghĩa Marx – Lenin, tách nó khỏi thực tiễn, khỏi khoa học cụ thể và dần biến nó thành học thuyết tôn giáo.

2/ Phong thánh cho các nhà kinh điển của chủ nghĩa Marx. Các tác phẩm của họ được in với số lượng khổng lồ. Mỗi lời nói của họ được đặt cho ý nghĩa chân lý không gì lay chuyển.

3/ Chủ nghĩa Marx – Lenin bị ngăn cách khỏi mọi ý tưởng mới, khỏi bất cứ luận điểm mới nào dù đó là do tình hình cụ thể bắt buộc nảy sinh. Dần dần nó trở thành giáo điều. Nếu thời xưa có cuộc tranh luận dựa trên kinh điển Cơ đốc giáo về chủ đề trên đầu mũi kim chứa được bao nhiêu con quỉ, thì bây giờ xuất hiện cuộc tranh luận kiểu: Logic biện chứng là gì? (cuộc tranh luận này có ba trường phái tham gia, mỗi trường phái dựa trên ba câu hỏi khác nhau của Lenin trong những tác phẩm khác nhau về chủ đề này).

4/ Sử dụng những luận điểm bỉ tách ra khỏi ngữ cảnh, thuộc về một trường hợp khác, như là quả búa tạ để chống lại cái mới, chống lại khoa học. Ví dụ điển hình: luận điểm về sự bất dịch các hình thức chuyển động khác nhau cho phép cản trở việc sử dụng các phương pháp mới trong khoa học xã hội.

5/ Tạo ra “sách vỡ lòng” Marxist mới, bao gồm những câu nói thiếu ý nghĩa. Các phương tiện thông tin đại chúng đưa ra những bản tin được kiểm duyệt sạch sẽ.

Hậu quả của quá trình này là tạo ra một hình ảnh thứ hai của chủ nghĩa Marx – Lenin, do các nhà tư tưởng thiết kế.

Phản ứng của một con người bình thường đối với những bài luận tư tưởng kiểu này là rõ ràng và không cần phải bình luận.

Trong thần thoại La Mã có vị thần Ianus – thần của cánh cửa, lối ra vào. Ông được thể hiện với hai mặt. Vậy là cả chủ nghĩa Marx – Lenin cũng có hai mặt giống như Ianus. Một mặt mang những thông tin về công việc của các nhà kinh điển khoa học, thành tích của họ, nhiều cái còn giữ tính thời sự tới tận ngày nay. Mặt kia bị biến thành phương tiện bôi nhọ những thành quả đích thực của Marx, Engels, Lenin, thành phương tiện đấu tranh với Nhà nước Xôviết.

Các nhà tư tưởng và các môn khoa học xã hội

Khác với giai đoạn một của cuộc chiến tranh thông tin – tâm lý, khi khoa học tự nhiên phải chịu cuộc tấn công ác liệt của các nhà tư tưởng. Trong giai đoạn hai, tâm điểm hoạt động của chúng chuyển sang khoa học xã hội. Bộ ba: chủ nghĩa duy vật biện hcứng và lịch sử (triết học Marx – Lenin), chính trị kinh tế học, chủ nghĩa cộng sản khoa học được coi là cơ sở của khoa học xã hội. Chúng ta hay xét hai môn trên cùng. Theo những giáo trình sử dụng trong tất cả các trường đại học và là một phần cấu thành trong học vấn đại học, trình bày kết quả của 50 – 100 năm trước. Các kết luận của Marx, Engels, Lenin được trình bày bằng những câu trơn tuột, lắm lời. Các nghị quyết đại hội Đảng được nói tới với giọng nâng cao. Sự phê phán các nhà triết học, nhà kinh tế, xã hội học tư sản được tiến hành bằng phương pháp trích dẫn những đoạn không đạt, không thể hiện được thực chất quan điểm của tác giả. Tất cả những gì mới, hiện đại đều không được xét tới. Thế giới như dừng lại trong sự phát triển của mình.

Hãy xem giáo trình “Chủ nghĩa duy vật lịch sử”. Các tác giả của nó xác định “luận điểm chính yếu của chủ nghĩa duy vật lịch sử” như sau:

Sự phổ biến các luận điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng trong ý thức xã hội cho phép giải quyết đúng đắn vấn đề chủ yếu của khoa học xã hội – đó là vấn đề về quan hệ tồn tại xã hội (tức là đời sống vật chất và trước hết là quan hệ kinh tế) và ý thức xã hội, và cho phép giải thích lịch sử như một quá trình quy luật nghiêm túc.

Khác với tất cả các học thuyết duy tâm giải thích tồn tại xã hội bằng ý thức xã hội, chủ nghĩa duy vật lịch sử giải thích ý thức xã hội bằng tồn tại xã hội, và điều kiện sống vật chất của xã hội. Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội – đó chính là luận điểm chính yếu của chủ nghĩa duy vật lịch sử. Các tiếp cận duy vật biện chứng trong nghiên cứu xã hội cho phép hiểu được các hiện tượng xã hội và các mối quan hệ và tương quan nội tại của nó, trong sự chuyên động và phát triển mâu thuẫn của chúng. Chủ nghĩa duy vật lich sử cho phép hiểu được lịch sử loài người như một quá trình phát triển đi lên, đi từ hình thức thấp của xã hội tới hình thức cao hơn, thông qua những mâu thuẫn mới xuất hiện và được giải quyết, thông qua cuộc đấu tranh của các lực lượng xã hội tiến bộ chống lại các lực lượng cũ phản động”.

 (còn tiếp)

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.A. Lisichkin & L.A. Selepin – Chiến tranh thế giới thứ III: Cuộc chiến tranh thông tin – tâm lý, TC2 – 1999.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s