Cách mạng khoa học và công nghệ bắt đầu từ những năm 80 của thế kỷ XX, mở đầu tại nước Mỹ, khi quốc gia này muốn khôi phục vị trí bá chủ thế giới của mình không phải qua công nghiệp mà qua công nghệ cao. Mỹ đã sẵn sàng cho cuộc cách mạng khoa học công nghệ; nền kinh tế thế giới chuyển từ thời kỳ tự động hóa sang thời kỳ công nghệ cao. Đây chính là thời điểm hình thành và phát triển các ngành mũi nhọn như: công nghệ cao, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ năng lượng mới, công nghệ hàng không vũ trụ…

Trong đó, ngành chiếm vị trí đặc biệt quan trọng đóng vai trò cốt lõi của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại là công nghệ cao, công nghệ thông tin, phản ánh giai đoạn mới về chất của sản xuất, trong đó hàm lượng trí tuệ là thành phần chủ yếu trong sản phẩm. Trong cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, máy móc có thể thay thế một phần trí tuệ con người, làm cho tốc độ tư duy và năng lực tư duy phức tạp mở rộng. Công nghệ thông tin bao gồm cả phần cứng như chế tạo các vi mạch điện tử, máy vi tính, mạng máy tính… và các phần mềm hệ thống, phần mềm ứng dụng. Ngoài ra, phải kể đến các loại thiết bị viễn thông, điện tử công nghiệp, điện tử tiêu dùng, điện tử y tế, điện tử quốc phòng… đều là những bộ phận quan trọng của công nghệ thông tin. Nền kinh tế mới được trang bị lại chủ yếu nhờ áp dụng công nghệ thông tin, tạo ra các bộ não – thần kinh để tích hợp ngày càng rộng hơn trong toàn bộ nền kinh tế.

Sự phát triển của cơ sở hạ tầng

Cơ sở hạ tầng đóng vai trò hết sức quan trọng đối với việc xây dựng và phát triển “hiệu ứng mạng” của doanh nghiệp. Về mặt lý thuyết, cơ sở hạ tầng bao gồm hệ thống giao thông, thông tin liên lạc và hệ thống thủy lợi. Tuy nhiên, dưới góc độ nghiên cứu về “hiệu ứng mạng”, cơ sở hạ tầng sẽ chỉ được hiểu là hệ thống thông tin liên lạc. “Hiệu ứng mạng” được áp dụng tốt nhất trong những ngành có ứng dụng công nghệ cao như viễn thông, thương mại điện tử (e-commerce), ngân hàng điện tử (e-bangking)… Ở những ngành này, các tiện ích được ứng dụng phụ thuộc hoàn toàn vào hệ thống thông tin liên lạc như điện thoại, Internet, fax, các phần mềm giao tiếp chuyên môn… Nếu không có hệ thống thông tin liên lạc, những tiện ích trong các ngành này sẽ không thể phát huy giá trị sử dụng, do đó không thể xây dựng “hiệu ứng mạng” được. Vì vậy, hệ thống thông tin liên lạc có mối quan hệ mật thiết với sự phát triển của “hiệu ứng mạng” trong các ngành công nghệ cao. Việc đầu tư để phát triển cơ sở hạ tầng qua hệ thống thông tin liên lạc là việc làm tất yếu để xây dựng và phát triển “hiệu ứng mạng”.

Thu nhập bình quân đầu người

Đây cũng là một trong những điều kiện hết sức quan trọng cho sự hình thành và phát triển của “hiệu ứng mạng”. “Hiệu ứng mạng” trước hết phát sinh từ người tiêu dùng. Theo Alfred Marshall, “cầu” (demand) là số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ người tiêu dùng có khả năng và mong muốn mua tại các mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định với giả định các nhân tố khác không đổi. Như vậy, để người tiêu dùng mua được hàng hóa trên thị trường thì một trong hai nhân tố không thể thiếu được là người tiêu dùng phải “có khả năng mua”, tức có đủ tiền để mua hàng hóa đó. Yếu tố “có khả năng mua” này được lượng hóa bằng chỉ số thu nhập bình quân đầu người (GDP/người hoặc GNI/người).

Thu nhập bình quân đầu người của thế giới đã tăng lên đáng kể qua các năm. Theo số liệu thống kê của Ngân hàng Thế giới, GDP/người và GNI/người của thế giới đã tăng lên nhiều lần qua các năm.

 

Hình 1.7

 

Xu hướng chung của cả hai đồ thị là sự tăng dần đều và tăng với tốc độ lớn. Duy nhất có năm 2008, đà tăng này bị chặn lại do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 – 2009, nhưng sau đó đà tăng lại được thiết lập lại với tốc độ tăng trưởng cao. GDP bình quân đầu người của thế giới từ năm 1960 đến năm 2010 tăng xấp xỉ 18 lần, trong khi đó GNI bình quân đầu người từ năm 1980 đến năm 2010 cũng tăng xấp xỉ 5 lần. Khi thu nhập tăng, người tiêu dùng trở nên “giàu” hơn, nhân tố “khả năng mua” sẽ được đáp ứng, bảo đảm cho người tiêu dùng mua được hàng hóa và dịch vụ mà anh ta muốn mua, nhờ doanh nghiệp bảo đảm được thành công của chiến lược “hiệu ứng mạng”. Đây cũng là lý do mà các doanh nghiệp thường thích đầu tư vào các thị trường có thu nhập bình quân đầu người cao, đồng nghĩa với sự sẵn sàng chi trả của người tiêu dùng cao hơn, hơn là đầu tư vào các thị trường có mức thu nhập bình quân đầu người thấp.

Sự phát triển của đầu tư mạo hiểm (Venture Investment)

Để biến một ý tưởng kinh doanh thành hiện thực, một trong những điều kiện quan trọng nhất cần phải có là nền tảng tài chính hay còn gọi là vốn. Với các doanh nghiệp lớn, việc huy động vốn để triển khai một ý tưởng có thể được thực hiện bằng nhiều cách như: vốn của bản thân doanh nghiệp, vốn huy động từ hoạt động phát hành cổ phiếu, trái phiếu hoặc vốn vay được từ các tổ chức trung gian tài chính… Tuy nhiên, với các doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp mới hình thành, những phương pháp huy động vốn ở trên không khả thi. Vì mới thành lập, các doanh nghiệp này không thể phát hành cổ phiếu hay trái phiếu ra công chúng, cũng không thể vay từ các trung gian tài chính vì chưa tạo được niềm tin cho các tổ chức này. Vốn của bản thân doanh nghiệp, nếu có, cũng chỉ là một phần nhỏ so với số tiền cần thiết để triển khai ý tưởng. Vậy, đâu là cơ hội huy động vốn cho những doanh nghiệp chỉ có thế mạnh là một ý tưởng tiềm năng mang lại lợi nhuận cao nhưng không có vốn để triển khai? Tương tác cung cầu trên thị trường vốn giữa bên có ý tưởng nhưng thiếu vốn và bên có sẵn vốn đang tìm nơi đầu tư đã dần hình thành nên một kênh huy động vốn đặc biệt, đó là huy động vốn thông qua hoạt động đầu tư mạo hiểm.

Trên thế giới, khái niệm đầu tư mạo hiểm đã ra đời từ lâu và hoạt động này có đóng góp không nhỏ cho sự phát triển của kinh tế nói chung và sự phát triển của các doanh nghiệp mới nói riêng. Xuất hiện đầu tiên tại Mỹ năm 1946, đến nay, hoạt động đầu tư mạo hiểm đã phổ biến ở nhiều quốc gia và có rất nhiều công ty danh tiếng trên thế giới như Microsoft, Apple, Yahoo… lớn mạnh nhờ sự đầu tư ban đầu của vốn mạo hiểm. Tuy chỉ chiếm một tỉ trọng không lớn trong GDP của các quốc gia nhưng nguồn vốn đầu tư mạo hiểm đang ngày càng chứng minh tầm quan trọng của nó bằng cách tạo ra hàng triệu việc làm, giúp hình thành và phát triển hàng loạt doanh nghiệp mới, đặc biệt là các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghệ và công nghệ cao, góp phần phát triển nền khoa học công nghệ của quốc gia đó, đẩy mạnh sự phát triển của thị trường chứng khoán thông qua các hoạt động phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng…

“Hiệu ứng mạng” chủ yếu xuất hiện ở các ngành, lĩnh vực ứng dụng công nghệ cao. Trong những ngành này, ý tưởng xếp vị trí quan trọng hàng đầu nhưng muốn ý tưởng đó được thương mại hóa, mang lại lợi nhuận thì cần đến sự hỗ trợ của tài chính. Khi đó, đầu tư mạo hiểm sẽ phát huy và chứng tỏ được vai trò của mình khi rót tiền đầu tư vào những ý tưởng công nghệ để biến những ý tưởng đó thành sản phẩm phục vụ đời sống. Đầu tư mạo hiểm chính là một điều kiện, một cơ sở quan trọng để “hiệu ứng mạng” được hình thành và phát triển, đặc biệt trong điều kiện cạnh tranh quốc tế như hiện nay, doanh nghiệp nào sở hữu được nguồn vốn đầu tư mạo hiểm sẽ nắm được cơ hội thành công cao hơn.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Thị Tường Anh – Áp dụng “hiệu ứng mạng” trong cạnh tranh quốc tế – NXB CTQG 2014

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s