1/ Bối cảnh hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương

Từ sau cuộc khủng hoàng tài chính toàn cầu năm 2008 – 2009, bối cảnh tình hình kinh tế, chính trị và an ninh quốc tế đã có nhiều thay đổi to lớn. Sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc đã buộc Mỹ phải thực hiện “chiến lược xoay trục” (hay còn gọi là chiến lược tái cân bằng), chuyển hướng trọng tâm sang khu vực châu Á – Thái Bình Dương nhằm kiềm chế sự ảnh hưởng của Trung Quốc đối với khu vực này. Tuy nhiên, bối cảnh khu vực châu Á – Thái Bình Dương vẫn cho thấy sự đan xen lợi ích giữa cạnh tranh ảnh hưởng và hợp tác kinh tế, trong đó, hợp tác kinh tế được xem là xu hướng chủ đạo tại khu vực. Theo báo cáo của ADB, kinh tế châu Á ngày càng đóng vai trò quant rọng hơn đối với thế giới, với GDP gần bằng với châu Âu hoặc châu Mỹ (ước tính đến năm 2020 GDP của châu Á sẽ tăng 50%). Hơn nữa, trong bối cảnh kinh tế EU và Mỹ tiếp tục tăng trưởng yếu ớt ở mức 1 – 2,5%/năm, châu Á được kỳ vọng trở thành “đầu tàu” để vực dậy nền kinh tế thế giới. Vì vậy, khu vực này đang chứng kiến cơ chế hợp tác kinh tế cao độ trong khuôn khổ các hiệp định tự do thương mại đa phương, mà nổi bật là RCEP và TPP.

Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP)

RCEP là hiệp định thương mại do các quốc gia ASEAN khởi xướng, liên kết các nền kinh tế của 16 quốc gia khu vực châu Á – Thái Bình Dương, bao gồm 10 quốc gia ASEAN và 06 quốc gia mà ASEAN đã ký kết FTA gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và New Zealand. Ý tưởng về RCEP lần đầu tiên giới thiệu vào tháng 11/2011 tại Hội nghị thượng đỉnh lãnh đạo ASEAN ở Bali, được các nước ASEAN nhất trí khởi động đàm phán tại Hội nghị thượng đỉnh Đông Á (EAS) vào tháng 11/2012 và dự kiến sẽ kết thúc vào cuối năm 2015. RCEP hướng tới mục tiêu thiết lập khối thương mại tự do lớn nhất thế giới với dân số hơn 3 tỷ người, GDP khoảng 17000 tỷ USD và chiếm khoảng 40% tổng thương mại thế giới. Trong đó, nội dung của RCEP sẽ bao gồm các điều khoản về thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, đầu tư, hợp tác kinh tế và kỹ thuật, sở hữu trí tuệ, chính sách cạnh tranh và giải quyết tranh chấp. Với mục tiêu củng cố vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc kinh tế khu vực đang nổi lên và tìm cách hài hòa những khác biệt giữa các FTA của ASEAN, RCEP không chỉ thúc đẩy hội nhập kinh tế khu vực mạnh mẽ hơn, dần dần loại bỏ thuế quan và các rào cản phi thuế quan, đảm bảo tính nhất quán với các quy tắc của WTO, mà còn đem lại lợi ích kinh tế to lớn cho các quốc gia thành viên. Đặc biệt, các nền kinh tế phụ thuộc xuất khẩu ở khu vực Đông Nam Á sẽ có nhiều cơ hội hơn trong việc tiếp cận các thị trường lớn trong khu vực như Trung Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ. Ngược lại, điều này cũng sẽ thúc đẩy đầu tư từ các quốc gia phát triển sang các quốc gia kém phát triển và cùng hội nhập toàn diện vào các hoạt động kinh tế khu vực.

Hiệp định Đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP)

TPP được biết đến như một hiệp định thương mại tự do nhiều bên với mục tiêu thiết lập một khối thương mại cho các nước khu vực châu Á – Thái Bình Dương nhằm thúc đẩy thương mại, đầu tư và cải cách thể chế. TPP được ký kết lần đầu tiên vào ngày 3/6/2005 (có hiệu lực từ ngày 28/5/2006) gồm 4 nước: Singapore, Chile, New Zealand, Brunei. Sau đó, lần lượt Mỹ (tháng 8/2006); Australia, Peru và Việt Nam (tháng 11/2008); Malaysia (tháng 11/2010); Canada và Mexico (tháng 10/2012); Nhật Bản (tháng 3/2013) tuyên bố tham gia đàm phán TPP. Với sự tham gia của các nền kinh tế lớn trên thế giới, TPP được kỳ vọng sẽ trở thành khu vực kinh tế rộng lớn với hơn 790 triệu dân, đóng góp 40% GDP và chiếm 1/3 thương mại toàn cầu. Tính đến nay, các quốc gia vẫn đang tiếp tục đàm phán một loạt các điều khoản của TPP như: quyền sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn lao động, chính sách cạnh tranh, nguyên tắc đầu tư, quy tắc xuất xứ, môi trường và vai trò của doanh nghiệp nhà nước. Trong đó, Mỹ đang giữ vai trò cực kỳ quan trọng, là “nam châm” thu hút các nước châu Á – Thái Bình Dương khác tham gia TPP. Chính vì vậy, TPP được xem như nền tảng để xây dựng một khu vực mậu dịch tự do Châu Á – Thái Bình Dương (FTAAP) rộng lớn hơn. Theo đó, TPP sẽ thúc đẩy quan hệ thương mại giữa Mỹ với các nước châu Á – Thái Bình Dương, củng cố và mở rộng phạm vi ảnh hưởng của Mỹ tại khu vực trong bối cảnh vai trò của Mỹ tư cách là đối tác thương mại của nhiều nước châu Á đang giảm sút nghiêm trọng. Ngược lại, các nước châu Á – Thái Bình Dương sẽ được hưởng lợi rất nhiều từ TPP, nhất là thu hút đầu tư, chuyển giao công nghệ, tăng cường hội nhập khu vực thông qua cải cách thể chế, gia tăng thương mại hàng hóa, dịch vụ khi thuế suất giảm xuống 0%.

Như vậy, RCEP và TPP được kỳ vọng sẽ hình thành các khối thương mại hướng đến hội nhập kinh tế khu vực rộng lớn hơn, mà mục tiêu cuối cùng là thiết lập khu vực mậu dịch tự do châu Á – Thái Bình Dương. Tuy nhiên, cả RCEP và TPP đều đang đối mặt với những thách thức rất lớn (chẳng hạn như những bất đồng quan điểm về quy tắc xuất xứ hàng hóa) trong việc tìm kiếm một hiệp định khu vực hài hòa lợi ích giữa các quốc gia đã ký kết các hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương. Đàm phám những vấn đề mới, chưa được quy định trong các hiệp định thương mại tự do song phương, hoặc chấp nhận các thể thức mới đối với một số vấn đề được quy định trong các hiệp định đó cũng đang tạo ra một số thách thức nhất định. Điều này sẽ tác động đến các tiến trình hội nhập kinh tế ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, đặc biệt là Sáng kiến thành lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN sẽ được thực thi vào cuối năm 2015.

2/ Tác động của hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương đối với AEC

Cùng với Cộng đồng An ninh ASEAN và Cộng đồng Văn hóa – Xã hội ASEAN, AEC được xem là một trong ba trụ cột quan trọng của Cộng đồng ASEAN (AC) nhằm thực hiện các mục tiêu đề ra trong Tầm nhìn ASEAN 2020, dự kiến sẽ thành lập vào cuối năm 2015. Năm 2008, việc HIến chương ASEAN có hiệu lực, khẳng định lại mục tiêu thiết lập Cộng đồng ASEAN dựa trên ba trụ cột trên đã xác định cơ sở pháp lý quan trọng cho việc hình thành AEC. Sự ra đời của AEC là sự tiếp nối các chương trình hợp tác kinh tế nội khối ASEAN như: Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA), Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA) và Hiệp định khung về thương mại dịch vụ ASEAN (AFAS), nhưng việc lãnh đạo các quốc gia ASEAN thống nhất thành lập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) mới chính là tiền đề quan trọng cho việc xây dựng AEC mà ASEAN đang hướng tới.

Trọng tâm của AEC là phát triển kinh tế khu vực dựa trên sự kết nối sức mạnh thị trường của mười quốc gia ASEAN với khoảng 600 triệu dân và tổng GDP hơn 1850 tỷ USD. Thông qua AEC, ASEAN muốn xây dựng một cấu trúc liên kết kinh tế ở mức cao, dựa trên sự hội tụ mạnh mẽ các chính sách, luật lệ và quy định liên quan đến thương mại và đầu tư. Cụ thể, AEC sẽ hướng đến việc đưa ASEAN trở thành một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất; một khu vực kinh tế có sức cạnh tranh cao; phát triển kinh tế cân bằng; hội nhập đầy đủ vào nền kinh tế toàn cầu. Cho tới nay, mục tiêu đưa ASEAN trở thành một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất đang được ASEAN thúc đẩy mạnh, bao gồm năm yếu tố cơ bản: tự do lưu chuyển hàng hóa; tự do lưu chuyển dịch vụ; tự do lưu chuyển đầu tư; tự do lưu chuyển vốn; và tự do lưu chuyển lao động có kỹ năng.

Với những mục tiêu đã đề ra ở trên, AEC sẽ đem lại những lợi ích kinh tế tiềm năng cho các nước thành viên ASEAN như tăng trưởng kinh tế nhanh hơn, tạo ra nhiều việc làm hơn, thu hút FDI mạnh mẽ hơn, phân bố nguồn lực tốt hơn, tăng cường năng lực sản xuất và nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Các nước ASEAN sẽ được tham gia sâu rộng vào chuỗi sản xuất và giá trị toàn cầu, cũng như hưởng lợi nhiều hơn từ thương mại và đầu tư nội khối. AEC cũng đặc biệt chú trọng thúc đẩy mục tiêu thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các quốc gia nội khối. Tính đến nay, ASEAN đã thực hiện được gần 70% số biện pháp đề ra trong lộ trình tổng thể thành lập AEC. Cả 12 lĩnh vực thuộc AEC do các cơ quan chuyên ngành như tài chính (kể cả hải quan), giao thông – vận tải, nông nghiệp, viễn thông, du lịch, khoa học – công nghệ, năng lượng – khoáng sản, hợp tác tiểu vùng… triển khai đều đã đạt được các kết quả quan trọng. Vì vậy, AEC đã và đang trở thành mục tiêu hợp tác kinh tế cốt lõi của ASEAN, đóng vai trò xương sống trong nỗ lực liên kết ASEAN. Nếu thành công, ASEAN sẽ trở thành một thị trường chung, một không gian sản xuất thống nhất, nhằm phát huy lợi thế của khu vực ASEAN, từng bước xây dựng một khối kinh tế năng động, mang tầm khu vực, có tính cạnh tranh cao trên thế giới.

Đối với ASEAN, ngay từ khi mới ra đời, việc giữ vai trò trung gian và cân bằng lợi ích giữa các nước lớn trong và ngoài khu vực luôn là vấn đề thường trực. Do đó, thỏa thuận và ký kết hàng loạt các hiệp định thương mại tự do đa tầng và đan chéo nhau hầu như không thể tránh khỏi, khiến cho AEC trở thành tâm điểm giao thoa của hàng loạt các thỏa thuận thương mại song phương và đa phương, đặc biệt là RCEP, TPP và FTAs. Tuy nhiên, mọi hiệp định thương mại tự do song phương hoặc đa phương đều phải hướng đến mục tiêu thành công của AEC dù có những tác động nhất định.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Hồng Sơn, Nguyễn Anh Thu (đcb) – Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), bối cảnh và kinh nghiệm quốc tế – NXB ĐHQG HN 2015.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s