Luận điểm “tồn tại quyết định ý thức” được tuyệt đối hóa, sử dụng bên ngoài khoảng áp dụng của nó, được các nhà tư tưởng sử dụng như là thứ vũ khí quan trọng trong cuộc chiến chống Liên Xô.

Các tác giả của sách giáo khoa chỉ rõ lực lượng thù nghịch chống lại chủ nghĩa duy vật lịch sử. Đó là xã hội học tư sản với những chân rết của nó:

Nét đặc trưng của tất cả môn xã hội học tư sản hiện đại là tính triết trung cực đoan, và tính mâu thuẫn nội tại. Dù có rất nhiều xu hướng xã hội học tư sản, nhưng tất cả chúng đều có nét chung là: duy tâm trong giải thích lịch sử xã hội, phủ nhận các quy luật phát triển xã hội khách quan và thực tế, dựa vào nhận thức, vào chính sách và ý chí của chính quyền, vào các nhà hoạt động xã hội như là lực lượng quyết định chính yếu trong lịch sử, trong đời sống xã hội. Mặc dù nhiều xu hướng xã hội học tư sản (chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, địa chính trị, thuyết Malthus mới, thuyết ca ngợi sức mạnh và kỹ thuật là động lực chính cho lịch sử phát triển…) đã được che đậy bằng áo khoác tự nhiên học, để trông có vẻ giống khoa học. Nhưng không được quên đó chỉ là biến dạng của chủ nghĩa duy tâm. Bị chủ nghĩa Marx đánh tan tác, chủ nghĩa duy vật cổ thể hiện trong những hình thức mới, nhưng thực chất của nó vẫn như cũ; tất cả những biến thể của xã hội học tư sản xa cách với khoa học cũng như trời xa đất vậy”.

Phương pháp chỉ trích xã hội học tư sản được thể hiện rõ trong đoạn trích dưới đây:

Sự nhỏ nhặt và suy đồi của xã hội học tư sản có thể thấy ngay từ tên gọi của các bài viết của các nhà xã hội học tư sản. Đây là tên gọi của một số tác phẩm ra đời thời gian gần đây ở Mỹ: “Thánh lễ và vai trò của nó với nền văn minh” của Walles, “Nhà thờ và tiến bộ xã hội” của Bowen, “Thiên mệnh và lịch sử” của Casserli… Xã hội học tư sản như một môn ngụy khoa học phản động bị thất bại hoàn toàn, phá sản trên mọi hướng. Ngay chính những trụ cột của môn xã hội học tư sản này cũng phải thừa nhận sự phá sản của nó. J. Due chết cách đây không lâu trong cuốn “Các vấn đề của con người” đã viết: “Ngay cả những người nhìn xa trông rộng nhất cũng không thể thấy trước được tình thế năm mươi năm trước. Những người với thế giới quan rộng, đầy hy vọng lại thấy rằng tình hình thực tế đi theo hướng ngược lại”.

Điều khác biệt chủ yếu của tất cả những xuất bản lần sau của sách là cải thiện kiểu cách, thay thế vài câu trích dẫn và ví dụ, trong khi vẫn giữ tinh thần cũ. Trong chủ đề này ở tất cả các lần xuất bản đều có lời của các nhà kinh điển chủ nghĩa Marx về vai trò của phương pháp lao động, mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, hạ tầng cơ sở và thượng tâng kiến trúc, giai cấp và đấu tranh giai cấp, chuyên chế vô sản, vai trò của quần chúng và cá nhân trong lịch sử. Thực tế bên trong đó không có gì ngoài khuôn khổ kinh điển, mặc dù là tình hình thế giới đã thay đổi nhiều. Tất cả những gì mới đều bị bật đèn đỏ.

Trong môn chính trị kinh tế học tình hình cũng tương tự, bị đóng hộp trong mức độ của các nhà kinh điển chủ nghĩa Marx. Nếu như chủ nghĩa duy vật lịch sử chủ yếu liên quan tới lĩnh vực triết học và không ảnh hưởng nhiều tới các khoa học cụ thể, thì môn chính trị kinh tế học tác động tiêu cực khá mạnh lên những nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực kinh tế và điều hành. Tình huống này làm ta nhớ lại cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm trong vật lý. Tất cả các giáo trình về chính trị kinh tế học chủ yếu bao gồm một tập hợp lời nói chung chung, thiếu nội dung cụ thể.

Nếu như tới giữa thập niên 60 kinh tế Liên Xô đã có bước nhảy vọt lớn, và tốc độ tăng trưởng vượt xa các nước tư bản phát triển, thì tình hình trong tương lai đã thay đổi, và tầm mức của nền kinh tế đòi hỏi phải sửa đội cách tiếp cận. Nhưng các khuôn mẫu tư tưởng đặt ra trong môn chính trị kinh tế học đã tạo nên trở ngại không thể vượt qua nổi trên con đường áp dụng những biện pháp kinh tế thích hợp.

Nhiều thành tựu lớn bị bỏ qua như “cuộc cách mạng của các giám đốc” ở phương Tây những năm 50, sự gia tốc phát triển nhờ tiến bộ khoa học kỹ thuật, lĩnh vực thông tin vượt lên phía trước và sự hình thành những công nghệ thông tin mới về chất. Tất cả những việc này tạo tiền đề cho việc suy giảm tốc độ phát triền kinh tế và tụt hậu trong công nghệ mới.

Tán dương sự sáng tạo của các nhà tư tưởng

Khác với môn chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và kinh tế chính trị học, trong đó trình bày tư tưởng của các nhà kinh điển được biên dịch sang các tiếng khác, giáo trình “Chủ nghĩa cộng sản khoa học” được thêm vào những tư tưởng của các nhà tư tưởng. Việc hình thành giáo trình có sự tham gia của 22 người – tinh hoa của các nhà tư tưởng. Nhưng trong cuốn sách ghi:

Giáo trình được chuẩn bị bởi tập thể các tác giả: Fedoseev (chủ biên), Afanasiev, Brutents, Burlatski, Glezerman, Glagolev, Zagladin, Kaltakhchan, Krasin, Kuskov, Msvennieradze, Smirnov, Stepanov, Stepanhian, Sudarikov, Tolkunov, Iakovlev. Trong nhiều chương và phần còn có sự tham gia của: Kaltakhchan, Kovalev, Kurưdev, Sinhinsưn, Khhéc-tahev”.

Cuốn sách có 432 trang, tạo cho bất cứ ai cầm nó trong tay một ấn tượng khó quên. Đó thực sự là một kiệt tác của những câu nói bóng bẩy, nhiều lời, kết hợp giữa vô nghĩa và sự tầm thường. Trong cuốn sách chỉ dựa vào Tuyển tập các tác phẩm của Lenin và Marx – Engels, chỉ rõ số tập và trang, và trích dẫn cả lời Breznhev (đưa cả đoạn văn từ Đại hội Đảng). Trong cuốn sách nhiều lần nhấn mạnh vai trò của chủ nghĩa Marx – Lenin như là một học thuyết duy nhất đúng.

Trong quá trình phá vỡ trật tự xã hội cũ, và xây dựng cuộc sống mới, trong điều kiện đấu tranh vô cùng ác liệt của lực lượng XHCN và tiến bộ chống lại chủ nghĩa đế quốc và phản động, nhất định sẽ xuất hiện các vấn đề cực kỳ phức tạp về con đường phát triển của xã hội. Đối với những vấn đề có ý nghĩa quyết định tới số phận cụa hàng triệu con người này, chỉ có Chủ nghĩa Marx – Lenin cho câu trả lời duy nhất đúng.

Lịch sử chưa từng biết tới một học thuyết chính trị xã hội nào lại có tác động to lớn như vậy tới quá trình phát triển của thế giới, như là chủ nghĩa Marx – Lenin. Học thuyết này chỉ ra cho nhân dân lao động toàn thế giới con đường xây dựng một xã hội mới. Nó là cẩm nang hành động cho các Đảng Marxist – Leninnit, cho giai cấp công nhân và các lực lượng cách mạng khác trên toàn thế giới trong cuộc đấu tranh để chuyển hóa trên nền tảng XHCN.

Trong Báo cáo tại Đại hội Đảng XXV, Tổng Bí thư BC TW Breznhev đã nói: “Chủ nghĩa Marx – Lenin – đó là nền tảng tin cậy duy nhất để đưa ra các chiến lược và chiến thuật đúng đắn. Nó cho chúng ta sự hiểu biết về tương lai lịch sử, giúp xác định phương hướng phát triển kinh tế – xã hội và chính trị cho nhiều năm tới, định hướng đúng trong các sự kiện quốc tế”.

Đoạn trích sau từ cuốn sách sẽ cho ta hiểu về sự diễn giải “chủ nghĩa cộng sản khoa học”, về thông tin chứa đựng trong đó và về phong cách trình bày:

Văn hóa XHCN khác biệt với văn hóa tư sản trước hết là ở nền tảng tư tưởng của mình. Nền tảng tư tưởng của giáo dục nhân dân, của khoa học, văn hóa nghệ thuật, hoạt động giáo dục nghệ thuật, của toàn bộ đời sống tinh thần xã hội XHCN chính là lý luận Marxist – Leninnit.

Văn hóa XHCN mang tính chất toàn dân, mọi người dân lao động đều có thể tiếp cận. Cổ vũ cho sự tăng cường hoạt động sáng tạo của công nhân và nông dân trong lĩnh vực văn hóa, CNXH cũng mở ra những triển vọng mới trước giới trí thức, những người ngày càng hòa mình vào cội nguồn to lớn của sáng tạo nghệ thuật – đó là nhân dân, đời sống của họ, hoạt động sản xuất. Như Gorki đã từng nói, nghệ thuật chỉ vững vàng và có thể phát triển không ngừng khi mà toàn bộ quần chúng tham gia vào công tác xây dựng nghệ thuật.

Nếu như dưới chủ nghĩa tư bản, mỗi nền văn hóa dân tộc bao gồm hai văn hóa: văn hóa tư sản thống trị và các nhân tố của văn hóa dân chủ, XHCN, thì trong XHCN lần đầu tiên có một nền văn hóa thống nhất cho tất cả các tầng lớp xã hội. Văn hóa XHCN là thành quả chung của công nhân, nông dân, trí thức, là kho báu trong đó chứa những giá trị tinh thần của tất cả các giới trong xã hội”.

Phản ứng đầu tiên đối với các đoạn trích: “Ừ thì sao? Mọi việc có vẻ đều đúng”. Nhưng nếu xem kỹ bạn sẽ chỉ thấy những câu tầm thường được kiểm tra kỹ, được phát ra bằng giọng điệu hoàn hảo. Thực tế ở đây chẳng có ý tưởng, chẳng có nội dung thực tế gì.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.A. Lisichkin & L.A. Selepin – Chiến tranh thế giới thứ III: Cuộc chiến tranh thông tin – tâm lý, TC2 – 1999.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s