+ Những điều kiện chủ quan từ phía doanh nghiệp

– Đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D)

Một trong những tiêu chí để đo năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là tốc độ tăng trưởng bền vững (tốc độ khá cao, duy trì trong khoảng thời gian dài…). Các doanh nghiệp không chỉ dựa trên lợi thế so sánh tương đối để có được vị thế cạnh tranh toàn cầu tốt, vì các lợi thế về nhân công giá rẻ, nguồn tài nguyên… không còn có tính quyết định khi chúng được lưu chuyển ngày càng dễ dàng và chỉ đem lại lợi thế cạnh tranh tĩnh.

Vậy, điều gì sẽ đem đến năng lực cạnh tranh bền vững cho doanh nghiệp? Theo nhiều tổ chức và nhà nghiên cứu, đó là lợi thế cạnh tranh động, là khả năng luôn cải tiến và đổi mới không ngừng. Điều này khiến cho năng suất tổng hợp của một doanh nghiệp phát triển không ngừng và theo đó là năng lực cạnh tranh động. Yếu tố đưa năng suất của một doanh nghiệp ngày càng cao chính là công tác nghiên cứu và phát triển (R&D) trong lĩnh vực khoa học công nghệ, quản trị doanh nghiệp cũng như phát triển con người. Đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) là vô cùng quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. R&D không chỉ mang lại sức cạnh tranh mạnh mẽ cho doanh nghiệp và nền kinh tế của quốc gia đó mà còn tạo ra sự tăng trưởng bền vững. Năm 2007, Nhật Bản đầu tư cho R&D là 3,4% GDP, Hàn Quốc là 3,3%, Mỹ 2,5%, Đức 2,4%, Singapore 1,1%, Trung Quốc đầu tư vào R&D mới chỉ chiếm 1,54% GDP năm 2008 và phấn đấu tăng lên 2,2% trong 5 năm tiếp theo. Theo báo cáo của UNESCO năm 2007, Trung Quốc có 1.423 triệu nhà nghiên cứu, chiếm 19,7% số nhà nghiên cứu trên thế giới. Về nguồn nhân lực dành cho R&D, Trung Quốc theo sát Mỹ và châu Âu với 1070 nhà nghiên cứu trên 1 triệu dân. Tại các nước phát triển, các tập đoàn tư nhân đi đầu cho R&D, số tiền họ chi ra lớn hơn tiền nhà nước chi với tỷ lệ nhà nước 1 – tư nhân 3. Việc nghiên cứu không chỉ ở tại các phòng thí nghiệm mà diễn ra ở cả các quốc gia mà họ có cơ sở sản xuất.

Đầu tư nhiều hơn cho R&D nhằm duy trì sự tồn tại và lợi thế cạnh tranh động trong dài hạn trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế là việc làm thiết yếu của mỗi doanh nghiệp. Nó không chỉ giúp các doanh nghiệp tồn tại trong cạnh tranh quốc tế mà còn là cơ sở cho sự hình thành và phát triển của “hiệu ứng mạng”.

Trình độ của nguồn nhân lực

Trong các phương pháp tạo ra năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, đặc biệt là trong điều kiện cạnh tranh quốc tế, thì lợi thế con người được xem là yếu tố căn bản và có tính quyết định. Nguồn lực từ con người là yếu tố bền vững và khó thay đổi nhất trong mọi tổ chức.

Trình độ nguồn nhân lực ở các doanh nghiệp được hiểu như là khả năng và trình độ của đội ngũ lãnh đạo và nhân viên trong công ty. Nguồn nhân lực đóng góp cho sự thành công của công ty trên các khía cạnh khả năng quản lý, khả năng thích ứng với sự thay đổi môi trường kinh doanh của đội ngũ lãnh đạo, khả năng đổi mới; kỹ năng trong công việc cụ thể; năng suất của đội ngũ nhân viên… Đây là những yếu tố then chốt mang lại sự thành công của các tổ chức. Tuy vậy, không phải tổ chức nào cũng có thể thành công trên hầu hết các khía cạnh của nguồn nhân lực, vì vậy họ thường chọn các trọng tâm phù hợp với tầm nhìn và chiến lược của công ty. Ví dụ có công ty đề cao các yếu tố về năng suất, kỹ năng có tính chuyên nghiệp, có công ty lại đề cao dịch vụ tốt, chất lượng cao, khả năng đổi mới của đội ngũ nhân viên…

Trình độ của nguồn nhân lực sẽ quyết định sự thành công hay thất bại trong các chiến lược kinh doanh mà doanh nghiệp định triển khai bởi lẽ doanh nghiệp có thể đầu tư rất lớn cho hoạt động R&D, người đứng đầu doanh nghiệp có chiến lược phát triển doanh nghiệp phù hợp… nhưng trình độ của nguồn nhân lực trong doanh nghiệp không cao, không đáp ứng được yêu cầu thì chắc chắn các hoạt động này sẽ không thể triển khai hoặc không thể thành công. “Hiệu ứng mạng” muốn tồn tại và phát triển trong điều kiện cạnh tranh quốc tế thì chất lượng của nguồn nhân lực phải được đặt lên hàng đầu. Bên cạnh những yếu tố thuận lợi do điều kiện khách quan mang lại và nguồn vốn đầu tư cho R&D lớn, doanh nghiệp phải có nguồn nhân lực chất lượng cao để có thể tạo ra những ý tưởng mới và biến những ý tưởng đó thành hiện thực, khiến cho những ý tưởng đó trở thành một chiến lược kinh doanh “hiệu ứng mạng” cụ thể, mang lại lợi nhuận lớn cho doanh nghiệp.

Chiến lược phát triển kinh doanh và lợi thế của doanh nghiệp

Chiến lược kinh doanh là tổng hợp các mục tiêu dài hạn, các chính sách và giải pháp lớn về sản xuất kinh doanh, về tài chính và con người nhằm đưa hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lên tầm cao hơn. Nói cách khác chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp là một chương trình hành động tổng quát mà doanh nghiệp vạch ra nhằm đạt được các mục tiêu trong một thời kỳ nhất định. Chiến lược kinh doanh chỉ phác thảo phương hướng dài hạn, có tính định hướng; được xây dựng, lựa chọn và thực thi dựa trên cơ sở lợi thế so sánh của doanh nghiệp. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải đánh giá đúng thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình khi xây dựng chiến lược. Trong thực tế chiến lược kinh doanh trước hết và chủ yếu được xây dựng cho các ngành nghề kinh doanh, các lĩnh vực kinh doanh chuyên môn hóa, truyền thống, có thế mạnh của doanh nghiệp.

Mỗi doanh nghiệp khác nhau lại có một chiến lược phát triển kinh doanh khác nhau. Có doanh nghiệp đặt mục tiêu phải đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh, tham gia vào càng nhiều lĩnh vực càng tốt, thậm chí không cần lĩnh vực mũi nhọn; có doanh nghiệp lại đặt ra mục tiêu phải trở thành doanh nghiệp hàng đầu trên thị trường trong lĩnh vực mà hãng chuyên hóa; có doanh nghiệp chỉ đặt ra mục tiêu tồn tại được trên thị trường như cũng có doanh nghiệp luôn mong muốn gạt bỏ hết các đối thủ cạnh tranh, trở thành người mạnh nhất trên thị trường, thu hút được càng nhiều lợi nhuận càng tốt… Tương ứng với mỗi mục tiêu khác nhau sẽ có chiến lược phát triển kinh doanh khác nhau. Nếu mục tiêu của doanh nghiệp chỉ là tồn tại được, có chỗ đứng trên thị trường và chiếm 1/n thị phần của thị trường, hành động của doanh nghiệp sẽ khác so với khi tầm nhìn của doanh nghiệp là phải xây dựng được “hiệu ứng mạng” cho sản phẩm của mình trong ngắn hạn, qua đó thu được nhiều lợi nhuận trong dài hạn, Ở trường hợp thứ hai, doanh nghiệp sẽ phải có các chiến lược kinh doanh phù hợp để đạt được mục tiêu này và các chiến lược kinh doanh sẽ phức tạp, khó khăn hơn trường hợp thứ nhất rất nhiều. Vì vậy, định hướng phát triển trong dài hạn, chiến lược kinh doanh và lợi thế của doanh nghiệp là những điều kiện không thể thiếu trong việc xây dựng và phát triển “hiệu ứng mạng” trong điều kiện cạnh tranh quốc tế.

d/ Sự cần thiết áp dụng “hiệu ứng mạng” tại các doanh nghiệp

“Hiệu ứng mạng” mang lại những lợi ích rất lớn cho người tiêu dùng. Mỗi người tiêu dùng mới tham gia vào thị trường sẽ làm tăng lợi ích của những người tiêu dùng đang ở sẵn trên thị trường, càng nhiều người tiêu dùng tham gia sử dụng sản phẩm thì lợi ích của mỗi người tiêu dùng trên thị trường đó lại càng tăng lên. Khi lợi ích của mỗi người tiêu dùng tăng lên, sẽ có ngày càng nhiều người khác muốn tham gia vào thị trường. Điều này lại làm tăng hơn nữa lợi ích của những người đã tham gia từ trước và cả của những người vừa mới tham gia thị trường. Khi số lượng khách hàng tăng lên theo cấp số nhân, lợi nhuận của doanh nghiệp cũng sẽ tăng lên theo cấp số nhân. Bên cạnh phần mềm máy tính, một số lĩnh vực khác cũng áp dụng chiến lược này rất thành công như các công ty trong lĩnh vực dotcom (thương mại điện tử, trò chơi trực tuyến nhiều người chơi), dịch vụ ngân hàng điện tử, dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ viễn thông di động…

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Thị Tường Anh – Áp dụng “hiệu ứng mạng” trong cạnh tranh quốc tế – NXB CTQG 2014

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s