Và điều kỳ diệu đó vẫn đang tiếp tục. Roger Fogel, nhà nghiên cứu lịch sử kinh tế được đề cử giải Nobel, người đã bỏ hàng chục năm để nghiên cứu sức khỏe, tuổi thọ và tỉ lệ tử vong của con người, đã nói: “Có rất nhiều người, trong đó có tôi, luôn tin rằng việc tăng tuổi thọ trung bình trong thế kỷ tới sẽ mạnh mẽ như đã từng xảy ra trong thế kỷ vừa qua”. Nếu những gì Roger nói đúng thì những thay đổi sẽ còn mạnh mẽ hơn nhiều. Đó không còn là do sự giảm tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh – căn nguyên của những thành tựu trong thế kỷ 20 – vì tỉ lệ này đã quá thấp rồi, mà thay vào đó là tỉ lệ tử vong giảm ở người lớn. Và đây cũng là nhận định của Roger. Ông nói, “Tôi tin rằng một nửa số sinh viên đại học ngày nay sẽ sống trên 100 tuổi”.

Các nhà nghiên cứu khác thì không được lạc quan như vậy, nhưng họ cũng đồng ý rằng những tiến bộ trong thế kỷ 20 sẽ tiếp tục vào thế kỷ 21. Một nghiên cứu về xu hướng sức khỏe toàn cầu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đến năm 2030 đưa ra 3 kịch bản khác nhau – trung tính, lạc quan và bi quan – tỉ lệ tử vong ở trẻ em sẽ giảm và tuổi thọ sẽ tiếp tục tăng ở khắp các khu vực trên toàn thế giới.

Tất nhiên có những nguy cơ tiềm ẩn. Ví dụ, nếu bệnh béo phì có ảnh hưởng nghiêm trọng như rất nhiều nhà nghiên cứu lo ngại, và nếu tỉ lệ trẻ bị béo phù ngày một tăng tại các nước giàu, nó có thể sẽ làm giảm những tiến bộ chung. Nhưng những vấn đề tiềm ẩn này sẽ được ngăn chặn. Fogel cho biết, “Bạn chỉ bắt đầu lo ngại về việc ăn quá nhiều khi bạn không còn lo lắng về việc không đủ thức ăn, và bạn biết đấy, trong lịch sử loài người phần nhiều chúng ta lo lắng vì thiếu lương thực”. Dù những thách thức mà chúng ta phải đối mặt là gì, thì có một sự thật không thể chối cãi là những nước có nền kinh tế phát triển đang được sống trong một thế giới an toàn, khỏe mạnh, và đầy đủ nhất trong lịch sử loài người. Vẫn có rất nhiều thứ có thể giết chết chúng ta. Thỉnh thoảng chúng ta cần lo lắng. Thỉnh thoảng chúng ta nên sợ hãi. Nhưng hãy luôn nhớ rằng chúng ta đã thật may mắn được sống trong thời đại ngày nay.

Trong một cuộc phỏng vấn đặc biệt trên đài PBS, Linda Birnbaum, một nhà khoa học hiện đang làm việc với Tổ chức Bảo vệ Môi trường Mỹ đã đề cập tới sự cân bằng cần thiết giữa việc nhìn nhận nghiêm túc những nguy cơ tiềm ẩn và giữ những nguy cơ đó trong tầm kiểm soát. Birnbaum, trưởng nhóm nghiên cứu những giả thuyết về các chất hóa học gây ra sự đứt gãy trong tuyến nội tiết cho rằng, trong môi trường có thể tiềm ẩn những ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe của con người, ông nói: “Với tư cách là các bậc cha mẹ, chúng ta ai cũng lo lắng cho con cái của mình. Nhưng tôi nghĩ rằng chúng ta phải nhìn vào thế giới mà con cái chúng ta đang sống và nhận ra rằng chúng đang được hưởng thụ những điều kiện tốt nhất về thức ăn, giáo dục, và tất cả những thứ thiết yếu cho cuộc sống và còn nhiều hơn nhiều những điều khác nữa. Điều đó khiến cho tuổi thọ trung bình của chúng cao hơn của chúng ta, cũng giống như tuổi thọ của chúng ta cao hơn bố mẹ, ông bà của chúng ta”.

Bất kỳ ai đã từng đến thăm nghĩa trang Victoria đều biết rằng chúng ta nên biết ơn, thay vì sợ hãi. Và rõ ràng là đừng để nỗi sợ hãi nắm lấy chúng ta. Chúng ta lo lắng. Chúng ta co rúm lại. Điều đó dường như là càng có ít nỗi sợ hãi, thì chúng ta lại càng sợ hãi.

Trớ trêu thay nguồn gốc của sự sợ hãi này là sự ngu dốt. Fogel nói, “Hầu hết mọi người đều không nhớ lịch sử. Họ chỉ biết những kinh nghiệm của chính mình vì những gì xảy ra xung quanh họ mà thôi. Vì thế họ coi thường những tiến bộ vượt bậc mà họ đang sở hữu”.

Có rất nhiều cách giải thích tại sao thời đại an toàn lại đang ngày càng bị lãng quên. Người ta đang làm marketing cho sự sợ hãi ở khắp mọi nơi. Các chính trị gia muốn giành được phiếu bầu, các nhà hoạt động xã hội muốn bán các sản phẩm, các tổ chức phi chính phủ kêu gọi sự đóng góp tiền bạc, vật chất… và họ biết cách làm cho mọi người lo lắng về tai nạn, bệnh tật. Cái chết thường là cách hiệu quả nhất để đạt mục tiêu này. Vì thế hàng ngày chúng ta bị tấn công bởi hàng đống các tin tức, thông điệp được gọt dũa cẩn thận khiến chúng ta lo sợ. Dù cho những trở ngại đó là hợp lý hay không – cơ sở của những lập luận đó có chắc chắn và dựa trên những nghiên cứu cẩn trọng hay không – thì nó cũng không phải là mối quan tâm trực tiếp của những người đã đưa ra những thông điệp đó. Cái quan trọng ở đây là mục tiêu. Sợ hãi chỉ là một kỹ thuật được sử dụng. Và nếu các con số đã bị pha trộn, ngôn ngữ khiến người ta hiểu lầm, những hình ảnh gợi cảm xúc và một kết luận không hợp lý có thể truyền tải hiệu quả mục đích của họ, thì họ sẽ luôn sử dụng chúng.

Các phương tiện truyền thông không chỉ là một trong số những kênh góp phần làm tăng lợi nhuận của việc marketing nỗi sợ hãi – không gì có thể làm tăng lượng bán và lợi nhuận bằng nỗi hoảng sợ thích đáng – mà còn là kênh quan trọng khiến cho việc quảng bá nỗi sợ hãi tinh tế và thuyết phục hơn bao giờ hết. Đối với giới truyền thông, yếu tố cơ bản nhất làm nên một câu chuyện tốt cũng giống như những điều làm nên một bộ phim, một vở kịch hoặc một câu chuyện hay. Đó là nó cần phải đề cập đến con người và cảm xúc, chứ không phải là các con số và các lập luận. Vì thế những hình ảnh về cái chết đầy thương tâm của một đứa trẻ được đưa tin trên khắp thế giới, trong khi tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh giảm đáng kể và vẫn đang tiếp tục thì lại ít được chú ý.

Đó chẳng phải hoàn toàn là lỗi của các phương tiện truyền thông khi mà não bộ của con người chỉ phản ánh những gì xảy ra xung quanh họ. Chúng ta nghe nhạc qua iPod, đọc báo, xem truyền hình, làm việc trên máy tính, bay vòng quanh thế giới và bộ não của chúng ta nhanh chóng thích nghi với việc tìm quả mọng và theo chân những đàn linh dương. Điều kỳ diệu là ở chỗ đôi khi chúng ta suy nghĩ sai lầm về những nguy cơ. Và điều kỳ diệu ở chỗ đôi khi phán đoán của chúng ta về những nguy cơ này lại đúng.

Vậy thì tại sao những con người đang được an toàn nhất trong lịch sử loài người lại lo sợ chính cái bóng của họ? Có 3 thành phần cơ bản đó là: bộ não, giới truyền thông, và rất nhiều cá nhân và các tổ chức say mê với việc tích lũy những nỗi sợ hãi. Trộn cả 3 thành tố này vào nhau chúng ta sẽ có một vòng tròn sợ hãi. Khi một yếu tố gióng hồi chuông báo động, dấu hiệu đó lập tức được nắm bắt, nhắc lại bởi các thành tố tiếp theo và rồi thành tố còn lại; khi chuông báo động đó quay trở lại với thành tố đầu tiên thì mức độ nghiêm trọng của báo động đó tăng lên. Nỗi hoảng sợ hiển hiện rõ ràng. Những tín hiệu khác về những nguy cơ khác, và càng nhiều vòng tròn sợ hãi được tạo ra, và nỗi sợ hãi vô lý kiểu Roosevelt – báo hiệu trở lại sẽ tạo thành một dấu ấn vững chắc trong cuộc sống hàng ngày của mỗi người.

“Điều duy nhất chúng phải sợ là chính bản thân nỗi sợ hãi – một sự khiếp đảm không có tên gọi, không đáng, và vô lý làm kinh khiếp những nỗ lực lớn để chuyển đổi từ sự ẩn giấu sang một sự tiến bộ” – Franklin D. Roosevelt.

Một mặt chúng ta không thể tránh né các điều kiện sống hiện đại ngày nay. Trí não vẫn còn đang ở thời kỳ đồ đá của chúng ta cũng thể thay đổi, chúng ta khó mà từ bỏ công nghệ thông tin và sự khuyến khích để marketing cho sự sợ hãi ngày càng tăng. Nhưng trong khi chúng ta khó có thể dứt bỏ được vòng tròn lo sợ đó thì ít nhất chúng ta cũng có thể làm giảm cường độ của nó xuống. Bước đầu tiên là nhận diện những tổ chức và cá nhân luôn có lý do để làm gia tăng nỗi sợ hãi cho bạn và hầu hết báo giới chẳng những kém nhận biết mà còn khó lòng điều chỉnh thích hợp cường độ của sự sợ hãi, thậm chí họ còn làm chúng tăng thêm. Chúng ta cần giữ cho mình một con mắt biết nghi ngờ, thu thập thông tin, suy nghĩ cẩn trọng và đưa ra kết luận của riêng mình.

Cũng phải nhận ra rằng não bộ của chúng ta khi đang suy xét một điều gì cũng dễ mắc phải sai lầm. Điều này quả thực là khó thực hiện. Các nhà tâm lý phát hiện ra rằng con người không thừa nhận rằng suy nghĩ của người khác là có thành kiến, họ thường hay nhận định quá lên về một khía cạnh nào đó. Nhưng hầu hết mọi người đều phủ nhận mình thiên vị. Một cuộc điều tra cho thấy 61% các khách hàng được hỏi nói rằng họ không bị ảnh hưởng do các món quà mà các hãng dược phẩm gửi tặng khi quyết định chọn hãng thuốc, nhưng các nhân viên bán hàng thì tiết lộ sự thật khác, chỉ có 16% là không bị ảnh hưởng. Có vẻ như mỗi chúng ta đều hiểu đã là con người thì phải có sai lầm.

(còn tiếp) 

TH: T. Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Dan Gardner – Nguy cơ, khoa học và chính trị về nỗi sợ hãi – NXB LĐXH 2008.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s