Giải trừ quân bị trong cuộc chiến tranh tâm lý

Trước các nhà tư tưởng của Đảng Cộng sản Liên Xô có một nhiệm vụ là phải ngăn cản việc nhận ra thực chất cuộc chiến tranh thông tin – tâm lý chống lại Liên Xô. Vũ khí của họ là hàng loạt luận điểm của chủ nghĩa Marx – Lenin được biến đổi dưới dạng thuận tiện, và được đóng hộp ở mức đầu thế kỷ. Nhưng câu khuôn mẫu như: “vật chất quyết định ý thức”, “sự khác biệt về chất giữa các dạng chuyển động”, “học thuyết lý tưởng” được sử dụng. Trên cơ sở đó, tất cả những nhà triết học và xã hội học phương Tây, làm việc trong hướng nghiên cứu các phương pháp tác động lên nhận thức con người đều bị tuyên bố là nhà duy tâm, phản động, kẻ thù của chủ nghĩa Marx. Các tác phẩm của họ không được công bố, không được nghiên cứu, mặc dù nhiều người trong số họ có cảm tình tích cực với đất nước ta, và có thái độ chống phát xít. Các công trình của các chuyên gia vĩ đại phương Tây như G. Le Bon, Nietzsche, Durkheim, Ortega-y-Gaset, Spencer bị lờ đi. Như Spencer nhận xét, trong giai đoạn bất ổn con người trở thành nạn nhân của các tác động tâm lý, của những huyền thoại chính trị. Chúng “đầu tiên biến đổi con người, để sau đó có thể điều khiển và kiểm soát hoạt động của họ. Con người bị chinh phục và khuất phục trước khi có thể hiểu điều gì đã xảy ra”. Các nhà tư tưởng đã phá tan ý thức xã hội, tạo cơ sở để đưa vào những huyền thoại chính trị, cách ly con người khỏi các nghiên cứu mà có thể cho phép tổ chức chống cự. Kết quả là tới thời điểm những năm 80 quyết định, mọi người vào cuộc chiến chống lại cuộc tấn công quyết định của phương Tây như là dùng gậy chống lại xe tăng vậy.

3/ Hệ thống các nhà tư tưởng – bất đồng chính kiến trong hành động

Trung tâm quyền lực mới

Một hệ thống đồng bộ các nhà tư tưởng – bất đồng chính kiến được hình thành vào cuối thập niên 60 đã mở ra những khả năng mới để tác động vào ý thức xã hội, và thực tế đã tạo ra trung tâm quyền lực mới, cho phép các nhà tư tưởng biến kẻ thù của mình thành người bất đồng chính kiến. Mỗi thành phần của cái hệ thống này thực hiện các nhiệm vụ của mình, tưởng chừng như độc lập với nhau. Nhưng cả hai nhóm đều hành động vì lợi ích của phương Tây dưới sự chỉ đạo của họ. Chỉ có ảo tưởng về sự đối chọi giữa các nhà tư tưởng và đám bất đồng chính kiến. Trên thực tế diễn ra một vở kịch, các nhân vật của nó vô tình hay hữu ý đã thực hiện tốt vai trò của mình. Các nhà tư tưởng có được khả năng không chỉ tạo ra đám bất đồng chính kiến từ những người chẳng liên quan gì tới chính trị, mà còn vô hiệu hóa bất cứ sáng kiến nào của những người ủng hộ Nhà nước Xôviết, nhằm để chỉ trích các nhà tư tưởng hay cải thiện tình thế trong nước, đổ cho họ là bất đồng chính kiến. Bây giờ chúng đã được bảo hiểm khỏi bất cứ hiểm họa nào. Mặt khác, tổ chức ra phong trào bất đồng chính kiến và gná cho những người tham gia hình ảnh chịu khổ nhục vì lý tưởng, các nhà tư tưởng đã tạo điều kiện để CIA và bộ máy tuyên truyền phương Tây can thiệp có hiệu quả. Trong báo cáo của Ilichev năm 1963 có viết:

Mới đây, Giám đốc Cơ quan Thông tin của Mỹ công bố những thông tin đáng quan tâm: Ngân sách của cơ quan năm nay là hơn 20 tỷ USD, và năm tới dự kiến tăng thêm 6 tỷ USD nữa. Cơ quan này có 239 phân ban ở 105 nước, và đài phát thanh “Tiếng nói Hoa Kỳ” phát 761 giờ mỗi tuần bằng 36 thứ tiếng. Cơ quan có hàng nghìn nhân viên. Như giám đốc cơ quan này tuyên bố, trong cuộc chiến tư tưởng còn có hơn 4 triệu du khách Mỹ hàng năm ra nước ngoài, một triệu binh sĩ Mỹ đóng ở nước ngoài và thành viên gia đình họ, hơn 30 nghìn tu sĩ người Mỹ tham gia. Hãy thêm vào đây các phim, “hài” của Holywood nữa..”.

Xuất phát từ đó báo cáo đưa ra kết luận:

Thật sai lầm nghiêm trọng nếu nghĩ cỗ máy làm ngu người đắt tiền đó lại chạy không tải. Như một máy ép khổng lồ, nó chèn ép vào nhận thức người dân trong thế giới tư bản, thò những xúc tua ra ngoài biên giới các nước tư bản, cố gắng tóm lấy những thành phần không kiên định ở các nước XHCN làm tù binh tư tưởng”.

Các nhà tư tưởng cũng tác động vào các “thành phần không kiên định”. Nhưng hành động của họ (như đã tính trước) lại tạo ra hiệu quả ngược lại. Những phát biểu của các nhà tư tưởng trên danh nghĩa Nhà nước, công bố trên phương tiện thông tin đại chúng và tivi, thường là không có nội dung thực tế, chỉ là lời chửi bới đám đối lập. Thay cho phân tích, người ta đưa ra những sự kiện riêng biệt được bình luận, ví dụ như:

Các nhà chiến lược của “cuộc chiến tranh tâm lý” suy tính, thực ra gã Ginzburg khi đó 24 tuổi có hợp lý khi sử dụng óc khôn ranh của mình hay không? Kiếm được các bài luận về văn học từ cuộc thi tốt nghiệp ở các trường công nhân thanh niên, hắn viết, hay đúng hơn là chép lại vào vở với giá là 50 rúp tiền công. Thật không may, một đoàn làm phim phóng sự tới trường mà Ginzburg học với tên giả, trong buổi thi hắn chép bài từ “phao”. Kẻ lừa đảo ngồi rất đúng tư thế trước ống kính, rồi… trong phóng sự người ta thấy những đoạn văn quen thuộc. Tòa án đã cho tên đạo chích hai năm lao động cải tạo. Đó là lần đầu tiên Ginzburg va chạm với luật pháp từ đầu thập niên 60, được bộ máy tuyên truyền phương Tây sau này biến thành một sự truy bức khắc nghiệt đối với “con người yêu sự thật””.

Tiếp theo về việc người ta ra quyết định sử dụng Ginzburg. Hắn nhận được tiền từ NTS và “chuẩn bị cho khủng bố”, kiếm thêm một kẻ đồng lõa là Galanskov, người từng viết “những vần thơ không chín chắn”. “Tiếp theo mọi việc đã rõ”. Do tội ác “tuyên truyền chống Xôviết” – Ginzburg nhận bản án 5 năm từ 1963. Tính thuyết phục của đoạn văn này không cần phải bình luận gì thêm. Đây là ví dụ khác về phong cách tư tưởng: bản nhận xét về Solzenhisưn:

Vào năm 1957 – 1958, một con người tầm thường luồn lách ở Moskva, nổi tiếng dâm đãng. Ông ta dò dẫm, liên hệ với những người có thể chuyển sang phương Tây và phát hành các tài liệu bôi nhọ chính quê hương mình. Thứ hàng có phẩm chất xấu xa nhất”.

Đó vẫn còn là lời nói tương đối nhẹ nhàng, trong đó còn có chút ý nghĩa nào đó. Nhìn chung những tuyên bố của các nhà tư tưởng đều khó hiểu đối với quảng đại quần chúng, và ấn tượng ngớ ngẩn. Nhưng đó là sự ngớ ngẩn cố ý, thường nêu ra dưới dạng châm biếm. Khi tạo được một người bất đồng chính kiến, họ chuyển sang màn hai của kịch bản – lên án hắn, trong đó lôi kéo một số lượng lớn các đại diện giới trí thức nghệ thuật. Một số chỉ nắm được ít thông báo chẳng liên quan gì tới vụ này, nên cố lảng tránh việc ký các giấy lên án người bất đồng chính kiến, hoặc bị buộc phải ký. Một số khác sẵn lòng ký, hy vọng sẽ được thăng tiến hay nhận được quyền lợi gì đó. Màn ba của kịch bản sẽ tạo dựng “các tù nhân lương tâm”, những người hy sinh vì “quyền con người”. Mà tất cả việc này diễn ra cứng nhắc, thường cứ như vở diễn xiếc. Ta trích một đoạn tả phiên tòa năm 1977:

Tôi chỉ cố gắng miêu tả một chi tiết hiện lên trước tôi qua lời kể của Arina Ginzburg. Bạn bè và người thân xúm đông bên ngoài tòa án ở Kaluga – người ta không cho họ vào bên trong – trong sự bao vây của công an. Người ta đợi lúc Aleksandr Ginzburg được chở tới. Các cửa ra vào đều đóng. Cuối cùng họ thấy một chiếc xe có trấn song ghé vào tòa án. Andrei Dmitrievich Sakharov cầm hoa trong tay chạy tới chiếc xe, miệng kêu “Alik, Alik”. Hoa bay qua trấn song của chiếc xe. Xe dừng lại, cửa sau mở ra để lộ bên trong: toàn là thùng chai rỗng. Vang lên tiếng cười mỉa mai của đám KGD: “Alik của các người đó”. Người ta đã đưa Aleksandr Ginzburg vào tòa án một cách bí mật”.

Trong màn bốn của kịch bản là sự ầm ĩ của các phương tiện thông tin đại chúng phương Tây, một chiến dịch quốc tế rộng khắp để bảo vệ cho kẻ bị lên án. Những người làm từ thiện chiến thắng: người tham dự tích cực được vinh quang, tặng thưởng, phỏng vấn.

“Năm 1979 Aleksandr Ginzburg là một trong số bốn tù nhân chính trị bị trục xuất khỏi Liên Xô để đổi lấy tự do cho 2 tình báo viên Xôviết”. Anh ta định cư ở Paris. Số phận những người bị trục xuất khác từ Liên Xô cũng tương tự, nhận được từ nước ngoài sự giúp đỡ và tiền bạc tương đối khá.

Những kẻ dựng lên kịch bản này chính là các nhà tư tưởng – đội quân thứ năm của phương Tây và CIA. Còn những người ký vào bản lên án, và cả đám bất đồng chính kiến chỉ là những con rối.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.A. Lisichkin & L.A. Selepin – Chiến tranh thế giới thứ III: Cuộc chiến tranh thông tin – tâm lý, TC2 – 1999.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s