Trong cuộc tranh cử tổng thống năm 2000, George W. Bush đã hứa hẹn sử dụng phương pháp lưỡng đảng để quản lý nhà nước – phương pháp có thể giúp chấm dứt các cuộc tranh cãi quyết liệt giữa hai đảng vốn là đặc trưng trong những năm cầm quyền của Clinton. Trong bài diễn văn chấp nhận đề cử tại Hội nghị toàn quốc của Đảng Cộng hòa, ông nói: “Tôi không có lợi ích gì trong các cuộc tranh cãi gay gắt trong vài năm vừa qua. Tôi muốn biến giọng điệu của Washington thành một giọng điệu lịch thiệp và tôn trọng lẫn nhau”. Nói một cách hoa mỹ, Bush muốn nêu bật hình ảnh của mình như một người coi nhẹ các đảng phái và tính đảng phái vốn là một phần của văn hóa đại chúng Mỹ. Hơn 90% người dân Mỹ nói rằng họ luôn bỏ phiếu cho người phù hợp nhất với công việc, không phân biệt đảng phái. Số đông tin rằng “các đảng phái khiến cho vấn đề rắc rối thêm, thay vì đưa ra một sự lựa chọn rõ ràng cho các vấn đề”. Chỉ có 38% ủng hộ việc tiếp tục hệ thống hai đản ghiện nay thay vì để cho các ứng cử viên tranh cử với tư cách cá nhân hoặc không thuộc đảng phái (28%) hoặc hình thành những đảng phái mới có thể thách thức một cách hiệu quả những người Dân chủ hoặc Cộng hòa (34%). Trong số các cử tri chuyển từ đảng này sang đảng khác (những người tự mô tả là độc lập, kể cả những người có khuynh hướng thiên về một trong các đảng phái), chỉ có 25% muốn duy trì hệ thống hai đảng. Đa số nhất quán nói rằng họ thích quyền kiểm soát chính phủ được phân chia giữa các đảng hơn là do một đảng độc quyền nắm giữ.

Từ những phản ứng này, một số nhà khoa học chính trị và các nhà nghiên cứu khác đã rút ra kết luận rằng vấn đề đảng phái hiện nay không còn ý nghĩa nhiều lắm đối với các cử tri. Nhưng trong năm 2000, chính giới cử tri được cho là rất chán ghét hoặc thờ ơ trước sự phân chia đảng phái này đã tiến hành một cuộc bỏ phiếu bầu cử tổng thống với tinh thần đảng phái cao nhất trong suốt lịch sử 48 năm của Viện nghiên cứu bầu cử quốc gia Mỹ, và sự trung thành đảng phái cũng lên cao bất thường trong các cuộc bầu cử vào Thượng viện và Hạ viện. Thêm vào đó, sau các cuộc bầu cử, khi sự chú ý chuyển hướng sang cuộc kiểm phiếu bầu tổng thống gây tranh cãi tại bang Florida, những người dân Mỹ bình thường, giống như các chính trị gia hoặc các nhà hoạt động chính trị, đã phản ứng theo một đường hướng phân chia đảng phái rõ rệt.

Công chúng có lý do xác đáng để nhìn nhận cuộc xung đột qua lăng kính đảng phái. Khi trận chiến bắt đầu ở Florida, nó đã  công khai mang tính đảng phái, khiến cho lợi thế đa số nghiêng về phía Bush vì đảng của ông kiểm soát tất cả những thể chế mà tại đó quyết định cuối cùng sẽ được đưa ra. Cụ thể hơn, Chưởng lý bang Florida và rất nhiều quan chức bầu cử địa phương là đảng viên Đảng Dân chủ, và các ứng cử viên Đảng Dân chủ chi phối Tòa án tối cao bang Florida, nơi Al Gore giành chiến thắng trong một số trận chiến nhỏ ban đầu. Nhưng Katharine Harris, Thư ký bang (quan chức phụ trách hoạt động bầu cử) là một nhà hoạt động chính trị thuộc Đảng Cộng hòa, và Bush có thể tin tưởng vào em trai của ông ta – Thống đốc Jeb Bush thuộc Đảng Cộng hòa – cũng như đa số thuộc Đảng Cộng hòa trong cơ quan lập pháp bang, nếu cơ quan lập pháp bang Florida lựa chọn những người dự đại hội cử tri [để bầu tổng thống] của bang (điều mà cơ quan này đã dọa sẽ tiến hành nếu cuộc kiểm phiếu không kết thúc đúng thời hạn để xác định danh sách ứng cử viên chính thức). Nếu cuộc tranh cãi được đưa lên Quốc hội để giải quyết, các thành viên Đảng Cộng hòa tại đây sẽ bỏ phiếu quyết định thắng lợi trong cuộc bầu cử cho Bush. Và Tòa án Tối cao Hoa Kỳ có quyền bác bỏ phán quyết của Tòa án Florida, điều nó đã làm trên thực tế khi năm thẩm phán Tòa án Tối cao – tất cả đều thuộc phe bảo thủ của Đảng Cộng hòa – đã chấm dứt từ trước cuộc kiểm phiếu lại, xác nhận chắc chắn rằng Bush có được tỷ lệ phiếu đại cử tri mang tính quyết định của Florida.

Tiến vào Nhà Trắng trong một cuộc bầu cử mang đậm tính đảng phái và gây tranh cãi nhiều nhất trong ký ức của những người đang sống, lời cam kết của Bush về việc trở thành “một người tạo ra sự thống nhất, không phải người gây chia rẽ” đã chứng tỏ là không lâu dài. Bất chấp thực tế là sự đoàn kết trên toàn quốc đã gia tăng hết sức mạnh mẽ trước sự kiện ngày 11 tháng Chín, vào thời điểm cuối nhiệm kỳ tổng thống thứ nhất của Bush năm 2004, sự chia rẽ đảng phái ở Washington thậm chí còn lớn hơn so với trước khi ông nhậm chức tổng thống, và sự đánh giá của người dân Mỹ về chính quyền của Bush đã phân hóa theo đảng phái mạnh nhất từ trước tới nay. Và cuộc bầu cử đưa Bush trở lại Nhà Trắng năm 2004 hóa ra còn mang đậm tính đảng phái hơn so với cuộc bầu cử đã đưa ông vào đây lần đầu tiên.

Rõ ràng là những báo cáo về sự mờ nhạt của các đảng phái đã được phóng đại quá nhiều. Trên thực tế, bất kỳ ai xem xét cách thức mọi người bỏ phiếu, người thắng cử, và cách thức điều hành hoạt động đất nước đều sẽ đi tới kết luận rằng hai đảng chính đang mạnh hơn bao giờ hết. Có một đa số lớn các cử tri sẵn sàng xác nhận họ thuộc Đảng Dân chủ hay Cộng hòa, và trong hai đảng này, đa số lớn bỏ phiếu một cách trung thành cho các ứng cử viên giành được một vị trí bổ nhiệm ở cấp bang hoặc liên bang mà không có sự đề cử của một trong hai đảng lớn; vào thời điểm tháng Giêng 2005, tất cả 50 thống đốc bang và 535 thành viên Quốc hội (trừ hai người) đều thuộc Đảng Cộng hòa và Dân chủ. Hơn nữa, đảng phái vẫn là công cụ tổ chức trung tâm của Chính phủ.

Khoảng cách rộng giữa ý kiến và hành vi của mọi người đối với các đảng phái chính trị bắt nguồn từ lâu trong lịch sử nước Mỹ. Không ai trong số những chính trị gia xây dựng nên Hiếp pháp hoặc dự định cai quản đất nước theo Hiến pháp lúc ban đầu lại nghĩ rằng các đảng phái là một ý tưởng tốt – trong đó có cả chính những người đã tạo ra chúng một cách không cố ý. Ngay cả trong thời kỳ hoàng kim của các đảng phái vào cuối thế kỷ XIX, chúng vẫn không ngừng bị chỉ trích hoặc coi thường công khai. Tuy nhiên, các đảng phái bắt đầu phát triển chẳng bao lâu sau khi lập quốc, và theo một khía cạnh nào đó, chúng đã trở thành một bộ phận không thể tách rời của bộ máy thể chế trong nền chính trị Mỹ từ đó. Lý do chủ yếu giải thích cho sự trường tồn của chúng chính là các thể chế được tạo ra bởi Hiến pháp đã đưa ra những phần thưởng cho việc sử dụng đảng phái – cho các ứng cử viên, các cử tri và cá quan chức trúng cử – quá hấp dẫn đến mức không thể từ chối. Các đảng phái chính trị Mỹ đại diện cho sự chiến thắng liên tục của lợi ích chính trị thuần túy.

Mặc dù động cơ chính trị là nguyên nhân cho sự tồn tại của các đảng phái, song những hoạt động để duy trì chúng đã góp phần tạo nên một nền chính trị dân chủ thành công theo những cách thức không ngờ tới. Trên thực tế, hậu quả không dự đoán trước được của các hoạt động đảng phái cũng quan trọng tới mức đa số các nhà khoa học chính trị đều nhất trí với E.E. Schattschneider, người đã từng nói rằng “Các đảng phái chính trị đã tạo ra nền dân chủ và rằng nền dân chủ hiện đại đa được cứu vãn một cách không ngờ tới xét trên phương diện đảng phái”. Các đảng đã tuyển lựa và đào tạo những nhà lãnh đạo, hỗ trợ cho việc tham gia hoạt động chính trị, và dạy dỗ các công dân mới về những thói quen và thực tiễn hoạt động mang tính dân chủ. Bên cạnh đó, chúng còn liên kết các công dân và các nhà lãnh đạo với nhau trong các liên minh bầu cử và chính sách cho phép các công dân có thể buộc những cơ quan mà họ bầu ra phải chịu trách nhiệm tập thể trước những việc làm của chính quyền. Chúng cũng giúp xoáy vào và hạn chế những xung đột chính trị, thúc đẩy các giải pháp hòa bình cho những xung đột này. Cuối cùng, các đảng phái tổ chức những hoạt động của chính quyền, tạo điều kiện cho hành động tập thể cần thiết để biến ưu tiên của công chúng thành chính sách công. Tóm lại, các đảng phái chính trị khiến cho nền dân chủ đại chúng trở nên hiện thực.

Bài này xem xét khởi nguồn và sự phát triển của các đảng phái quốc gia ở Hoa Kỳ và giải thích các đảng phái là gì, tại sao và bằng cách nào chúng được tạo ra, và chúng đã phát triển như thế nào. Như chúng ta sẽ thấy, các đảng phái là sản phẩm của một lôgích chính trị miễn cưỡng, xuất phát từ những hành động mang tính chiến lược của các chính trị gia và các công dân khi theo đuổi những mục tiêu chính trị của họ trong khuôn khổ những thể chế do Hiến pháp tạo ra.

Các học giả đã đề xuất rấ tnhiều định nghĩa chính thức về đảng chính trị. Hai trong số những định nghĩa nổi bật nhất hoàn toàn trái ngược nhau (ngoại trừ sự thành kiến về giới tính truyền thống của chúng). Edmund Burke, một chính trị gia và nhà khoa học chính trị của nước Anh thế kỷ XVIII, đã định nghĩa đảng phái là “một tổ chức của những người (men – nam giới – BT) tập hợp với nhau nhằm thúc đẩy lợi ích quốc gia thông qua nỗ lực chung của họ, dựa trên một số nguyên tắc cụ thể được tất cả nhất trí. Anthony Downs, trong nghiên cứu kinh điển thời hiện đại của ông nhan đề Một lý thuyết kinh tế về nền dân chủ (An Economic Theory of Democary), đã định nghĩa đảng phái là “một nhóm người (men) tìm cách kiểm soát bộ máy chính quyền bằng việc giành lấy những chức vụ trong các cuộc bầu cử được tổ chức theo thời hạn”. Mặc dù những lời ám chỉ hoa mỹ tới các nguyên tắc là yếu tố chính của nền chính trị đảng phái, song các đảng phái ở Mỹ đã chứng tỏ rằng họ dành nhiều nỗ lực vào công cuộc theo đuổi các chức vụ công một cách nhất quán hơn nhiều so với nỗ lực dành cho việc theo đuổi những nguyên tắc chung.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Samuel Kernell & Gary C. Jacobson – Lôgích chính trị Mỹ – NXB CTQG 2007.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s