Chế độ chính trị cơ bản XHCN của Trung Cộng bao gồm những nội dung nào? Trước hết, hiến pháp quy định rõ, toàn bộ quyền lực của CHND Trung Hoa đều thuộc về nhân dân. Mà cơ quan quyền lực cao nhất của nhân toàn quốc là Đại hội Đại biểu Nhân dân toàn quốc. Một khi về danh nghĩa quyền lực đều tập trung trong tay nhân dân thì bất kể là cơ quan lập pháp, tư pháp hay hành chính đều chịu trách nhiệm trước Đại hội Đại biểu Nhân dân. Đây là chỗ mà “chế độ nghị viện – hành chính” khác với thể chế tam quyền phân lập, đối trọng lẫn nhau trong chế độ dân chủ phương Tây. Lý luận đứng đằng sau những chế độ này rất giản đơn: một khi quyền lực đã nằm trong tay nhân dân thì sẽ chẳng còn gì gọi là sự đối trọng lẫn nhau giữa các quyền lực nữa. Đương nhiên vấn đề then chốt nhất chính là: nhân dân sử dụng quyền lực của họ như thế nào để cho các cơ quan nhà nước phục vụ nhân dân? Còn các cơ quan nhà nước nếu không thực hiện tốt chức trách của chúng thì nhân dân có kênh để giám sát quản lý chúng không?

Thứ hai, sự lãnh đạo của ĐCS Trung Quốc đối với chính quyền nhà nước. Do ĐCS là do giai cấp cách mạng trong nhân dân, tức là những phần tử tiên tiến trong giai cấp công nhân hợp thành, ĐCS lãnh đạo nhà nhước, và tổ chức nhân dân lại, được coi là thể hiện sự làm chủ của nhân dân. ĐCS không chỉ lãnh đạo các tổ chức quần chúng mà còn cần lãnh đạo các đảng phái dân chủ, thực hiện thể chế chính đảng “hợp tác nhiều đảng”.

Thứ ba, thực hiện chuyên chính dân chủ nhân dân có nghĩa là nhân dân hoàn toàn hưởng quyền dân chủ, nhưng thực hiện chuyên chính đối với giai cấp đối địch và “kẻ thù giai cấp” phá hoại CNXH. Ở đây đụng chạm đến một vấn đề nghiêm trọng: phân biệt như thế nào cho thỏa đáng “mâu thuẫn địch ta” và “mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân”? Khi một phần tử trong nhân dân nêu ý kiến với Đảng, đương nhiên anh ta đang thực hiện quyền chính trị của mình. Việc nhân dân có quyền phát biểu ý kiến chính là biểu hiện của dân chủ. Nhưng ai và căn cứ vào nguyên tắc nào để quyết định tính chất của ý kiến do anh ta nêu ra? Vô số những án “oan, giả, sai” trong lịch sử Trung Cộng là do mỗi khi có người nêu ý kiến, dù xuất phát từ thiện ý, nhằm cải thiện sự lãnh đạo của Đảng, nhưng lại bị những nhân sĩ hữu quan coi là công kích Đảng, xử lý như là “mâu thuẫn địch ta”. Do Trung Quốc Đại lục thực hiện thể chế quản lý tập trung quyền lực cao độ, quyền lực tập trung vào Đảng lại không bị kiềm chế, thực tiễn chuyên chính dân chủ nhân dân vẫn còn không ít vấn đề chưa giải quyết.

Cuối cùng, nguyên tắc tổ chức ĐCS Trung Quốc cũng là nguyên tắc trong quá trình thực hiện quyết sách trong nội bộ nhân dân, tức là “chế độ tập trung dân chủ”. Theo cách nói của Mao Trạch Đông, chế độ dân chủ tập trung là “tập trung trên cơ sở dân chủ, dân chủ dưới sự chỉ đạo tập trung”, trước hết thu thập ý kiến từ dân chúng, sau khi hình thành ý kiến chủ đạo lại đưa xuống cơ sở để tiếp tục thảo luận, thảo luận nhiều lần từ dưới lên, rồi lại từ trên xuống như vậy, sẽ hình thành nên cách làm tương đối thống nhất, lại có thể phản ánh lợi ích của nhân dân. Vấn đề then chốt là ai chỉ đạo toàn bộ quá trình thảo luận và quyết sách, thể chế tập trung quyền lực cao độ có nghĩa là một số ít người lãnh đạo chóp bu có thể định ra điệu thức cho toàn bộ quá trình, còn ý kiến cấp dưới đề đạt lên cấp trên cũng không nhất thiết được coi trọng, hay chỉ hợp với ý đồ cấp trên mới được coi trọng. Điều này tạo ra tình trạng “chỉ có tập trung, không có dân chủ”. Thể chế chính đảng và thể chế tập trung quyền lực lớn mạnh của Trung Quốc Đại lục có lợi cho việc động viên quần chúng, tập trung nhân lực, vật lực của xã hội để tiến hành xây dựng, có hiệu năng chính trị tương đối cao. Nhưng do chính phủ quản hết thảy mọi thứ, kết quả tạo thành sự ỳ trệ, hiệu suất thấp. Còn quyền lực thiếu sự kiềm chế, lợi ích của nhân dân không được coi trọng lại tạo ra tệ nạn chủ nghĩa quan liêu, dùng quyền lực mưu tư lợi…

V/ Những tệ lậu trong thể chế chính trị của Trung Quốc Đại lục

Về những tệ lậu của thể chế chính trị ở Trung Quốc Đại lục, vào thời kỳ tư tưởng và văn hóa Trung Quốc Đại lục mở ngỏ nhất trong khoảng năm 1986 – 89, các học giả đã bàn đến rất nhiều. Thể chế này vừa chịu ảnh hưởng của chính thể chuyên chế phong kiến truyền thống, lại pha tạp chính chất của chủ nghĩa Stalin, hình thành nên một thể chế do đảng và nhà nước lũng đoạn tất cả. Thông qua bộ máy nhà nước, đảng khống chế sít sao không kẽ hở các lĩnh vực xã hội và từng khâu trong đời sống nhân dân, phát triển tới đỉnh điểm vào cuối thời Mao Trạch Đông, hạn chế sự phát triển và sức sống tự lập, tự phát của cá nhân.

Theo cách nói của Tô Thiệu Trí (Su Shaozhi), đặc điểm của chế độ này quy lại là:

1/ Tập trung quyền lực toàn diện cao độ, hình thành trong toàn bộ xã hội một thực thể thống nhất “đảng – nhà nước – quân sự – kinh tế – hệ tư tưởng – văn hóa”. ĐCS nắm quyền lực lũng đoạn, quản tất cả mọi thứ, có mặt ở mọi nơi, dùng đảng thay cho chính quyền, đảng – chính quyền nhập một.

2/ Chế độ đẳng cấp mang màu sắc phong kiến mạnh mẽ, địa vị chính trị, kinh tế, xã hội đều có tường rào rạch ròi, khó lòng vượt qua. Sự thăng giáng đẳng cấp chức vị cán bộ đều do sự ưa thích của người lãnh đão cấp trên quyết định, “dùng người chỉ căn cứ vào tài năng” nhưng vẫn cần nhìn “quan hệ” và hậu trường. Chế độ bổ nhiệm và kiểm tra, thăng cấp, thuyên chuyển công chức có được sự quán triệt không là điều không thể biết được.

3/ Tăng cường bộ máy nhà nước, hình thành hiện tượng “nhà nước lớn, xã hội bé”. Nhà nước chúa tể tất cả, đời sống nhân dân hoàn toàn bị nhà nước chi phối. Chế độ sở hữu nhà nước được coi là “chế độ sở hữu toàn dân”, xí nghiệp quốc doanh tuy về lý luận là thuộc về toàn dân, nhưng lại thiếu hiệu suất, còn công nhân với tính cách là “chủ” lại thiếu tính tích cực. Trước nhà nước, nhân dân tỏ ra bất lực, không có chỗ nhờ cậy và nhỏ bé, còn công nhân và nông dân với tính cách là giai cấp thống trị thì về cơ bản không có kênh để tác động tới sự vận hành của nhà nước.

4/ Sự sùng bái nhà nước lại chuyển hóa thành sùng bái đảng và sùng bái cá nhân, người lãnh đạo đảng và nhà nước được coi là thần thành bất khả xâm phạm, ngay cả dân chủ trong đảng cũng không được tôn trọng đúng mức. Kết quả đấu trnah giữa một số cực ít người thuộc tầng lớp chóp bu quyết định đường lối chính sách của đảng trong những thời kỳ nhất định, nhưng cứ mỗi khi “người mất thì chính sách cũng dừng”, bên thất bại trong đấu tranh tất bị phê phán là phạm sai lầm nghiêm trọng, cho dù bên thắng thì sau đó cũng được lịch sử chứng minh là không hẳn đại biểu cho cái đúng. Chế độ tập trung quyền lực cá nhân được lập nên dưới thời Mao Trạch Đông lại đem lại chế độ giữ chức vụ lãnh đạo suốt đời và chế độ chỉ định người thay thế, và làm cho vấn đề kế thừa người lãnh đạo vĩnh viễn không thể nào tìm được giải pháp thỏa đáng.

5/ Để triệt để động viên quần chúng, đảng và nhà nước đòi hỏi dư luận rập khuôn như nhau, làm cho các phương tiện thông tin đại chúng trở thành công cụ tuyên truyền của Đảng, từ đó dẫn dắt sự phát triển của hình thái ý thức, thực hiện chế độ bưng bít tin tức và kiểm duyệt xuất bản.

Những chế độ này hình thành từ thời Mao Trạch Đông, vừa thể hiện thể chế Stalin “mang màu sắc Trung Quốc”, vừa duy trì và củng cố trật tự xã hội Trung Quốc Đại lục dưới thời Mao Trạch Đông. Thứ thể chế chính trị này tác động qua lại với mô hình kinh tế kế hoạch. Nhà nước cần cơ chế có đầy đủ quyền uy và điều hành tập trung, không thế thì làm sao thúc đẩy được nền kinh tế kế hoạch vận hành? Nhưng sau khi cải cách, mở cửa kinh tế, kinh tế xã hội ngày càng đa nguyên hóa, các giai cấp, đoàn thể, cá nhân đều đi tìm lợi ích của bản thân mình, thì người nắm quyền lực kinh tế và người lãnh đạo đảng và nhà nước nắm quyền lực chính trị, giữa hai bên phải điều hòa, phối hợp với nhau như thế nào?  Sự lớn mạnh của xã hội dân thường và sự trỗi dậy của kinh tế tư doanh thách thức trực tiếp quyền uy của những người thống trị Trung Cộng, nhưng cục diện “xã hội khống chế nhà nước” đi kèm theo nền chính trị dân chủ thì vẫn chưa thể hình thành. Trái lại, nhà nước vẫn “can thiệp” vào sự phát triển của xã hội, cán bộ các cấp nắm quyền lực nhà nước thậm chí trở thành người đóng vai trò chính của kinh tế “tư doanh”.

Quyền lực chính trị và quyền lực kinh tế vẫn tập trung trong tay “người thâu tóm quyền lực”, hình thành hiện tượng mới “quan chức, doanh nhân hợp nhất”, cũng tạo ra vấn đề nan giải mới cho cải cách thể chế chính trị.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Như

Nguồn: TĐB 96 – 13 & 14

Đinh Vĩ (Ding Wei) là PGS Khoa Chính trị và Quan hệ quốc tế, Đại học Thẩm Tín Hội, Hương Cảng.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s