Chiến dịch “Kisunko”

Trong những năm 70, các nhà tư tưởng nắm được quyền lực nhờ vào những người của mình được đặt vào những vị trí then chốt, đã tiến hành các hành động phá hoại sức mạnh quốc phòng của đất nước. Trong cuốn sách của Grigori Vasilievich Kisunko, một chuyên gia lớn, người tổ chức hệ thống phòng thủ tên lửa quốc gia, có sự phân tích chi tiết một trong những hành động như vậy. Nhiệm vụ của các hành động đó là: tiêu tốn các phương tiện quý giá; đi theo các hướng ngõ cụt, có vẻ như là tương tự của Mỹ, nhưgn thực sự là do Mỹ dẫn dắt; và loại bỏ những chuyên gia chủ chốt trong ngành.

Dưới đây trích dẫn một đoạn ngắn từ cuốn sách, cho chúng ta hiểu rõ việc tổ chức tiêu tốn phương tiện một cách vô ích, phá hoại kinh tế đất nước. Điều chính yếu là đưa được người cần thiết vào đúng điểm cần thiết.

Mục tiêu của hành động chính là điểm trọng yếu nhất trong việc phát triển kỹ thuật mới – cụ thể là việc hình thành chính sách khoa học kỹ thuật, và đưa nó tới mức tài liệu hướng dẫn. Còn sau đó thì thậm chí không cần sự tham gia của tác giả, những tài liệu ấy có hiệu lực trong toàn hệ thống điều hành nền công nghiệp, trong hệ thống đặt hàng kỹ thuật quân sự, trong kiểm soát, trong các Viện nghiên cứu và Phòng thiết kế, dù cho chúng có ngớ ngẩn như thế nào. Chính tại cái điểm nguy hiểm ấy, Markov giữ chức vụ trọng yếu, thứ trưởng Bộ Công nghiệp tên lửa – bộ chủ quản về Phòng thủ tên lửa (PRO) và Hệ thống cảnh báo đòn tấn công tên lửa (SPRN). Chính những quyền điều khiển hành chính và sự tự do hành động của chức vụ này đã xác lập tầm cỡ thảm họa do sự can thiệp của hắn vào các vấn đề quốc phòng phức tạp nhất của thế kỷ XX.

Vào tháng 10 năm 1981 phóng viên của báo “Tin tức” vùng Khabarovsk là Boris Reznik tình cờ gặp một “quái vật rừng sâu” ở gần làng Bolsaia Kartel, dưới dạng một công trình cao cả trăm thước, dài cả cây số với hình thù kỳ lạ, bên trong đầy những thiết bị điện tử. Những công trình này chẳng có ai bảo vệ, xung quang chẳng có ai, nếu không tính những người chơi vô tuyến nghiệp dư tới vặt các linh kiện điện tử vô chủ. Nếu không có chuyện phóng viên tình cờ tìm ra, và bài báo đăng tiếp theo, thì chẳng ai biết về một vụ áp phep lớn nhất trong công nghiệp quốc phòng Xôviết cũng như người cầm đầu của nó.

Như vậy, một lượng tiền khổng lồ, thời gian và lao động của hàng trăm nghìn con người ngây thơ tin rằng họ đang làm việc cho nền quốc phòng Liên Xô đã bị ném theo gió. Có lẽ ở đâu đó tối mật được ghi đó là cuộc thí nghiệm khoa học đặc biệt quan trọng. Từ những bài viết trên báo “Tin tức” (số 18 và 24 tháng 10 và 18 tháng 11 năm 1991), đối với những người hiểu biết về lịch sử công trình được gọi bằng mật danh “Vòng cung”, thì rõ ràng ai đó đã cố gắng khoanh vùng chú ý của các phóng viên và điều tra viên vào sự việc ăn trộm và cướp bóc linh kiện điện tử, nhất là thứ có kim loại quý… Tất cả việc này là để không lộ ra những bị mật tội ác được che dấu trước nhân dân về Trạm radar ngoài đường chân trời (TRNDCT) ở Bolsaia Kartel (bị trộm cắp và cháy), và một trạm tương tự ở Chernobưl (cũng bị trộm cắp và đã ngừng tồn tại), và cả một trạm thử nghiệm ở vùng Nikolaev.

Bí mật thứ nhất – cơ sở cho việc xây dựng Trạm radar ngoài đường chân trời được đặt trên ý tưởng bế tắc. Bởi vậy nên các công trình được sinh ra đã chết yểu ngay từ đầu. Chính vì nguyên nhân này, chứ không phải vì “sự lão hóa kỹ thuật” mà những công trình đó không được Bộ Quốc phòng chấp nhận đưa vào trang bị. Tức là ngay từ đầu, chi phí xây dựng trạm radar đã là vô ích.

Bí mật thứ hai của những công trình được ngụy trang bằng mật danh “Vòng cung” là ở chỗ, quyết định xây dựng chúng được đưa ra mặc cho những cảnh báo có cơ sở khoa học của các chuyên gia có uy tín. Còn chính những chuyên gia thì bị trừng phạt rất nghiêm khắc. Ví dụ Đại tá kỹ sư Zinin Valeri Ivanovich ở Cục đặt hàng quân sự Bộ tư lệnh phòng không đã bị đuổi về dự bị theo đúng kiểu quân sự. Còn Tổng công trình sư các Trạm radar ngoài đường chân trời, lãnh đạo Viện nghiên cứu liên lạc vô tuyến tầm xa là Musatov thì hơi khó khăn hơn. Như kết quả thì: không chỉ bị đuổi khỏi Viện nghiên cứu, mà còn bị đuổi khỏi nhân viên lực lượng vũ trang, và bị khai trừ Đảng…

Trong giai đoạn chuẩn bị cho đề xuất xây dựng TRNDCT, Musatov đã trình cho Hội đồng khoa học của Viện bản báo cáo chứng minh rằng tín hiệu phản hồi từ tên lửa của TRNDCT sẽ cả chục nghìn lần nhỏ hơn tín hiệu nhiễu, vì vậy việc xây dựng TRNDCT là vô ích. Để xét báo cáo này ở Viện nghiên cứu, theo chỉ thị của cựu giám đốc Markov, người mới trở thành thứ trưởng, Tổng Giám đốc và chỉ huy kỹ thuật của Liên hợp Khoa học – Công nghệ trung ương, và còn là Chủ tịch NTS liên ngành về các vấn đề PRO, SPRN, và PKO, đã triệu tập một “Chủ tịch đoàn NTS” bỏ túi. Để thêm tính quần chúng còn đưa vào cả bí thư Đảng ủy, công đoàn, đoàn thanh niên, giám đốc và kỹ sư trưởng nhà máy thử nghiệm và vài người chẳng liên quan gì tới vấn đề đang xét này. Cái “Đoàn chủ tịch” đó đã nhất trí – mười chống một Musatov, ủng hộ việc xây dựng TRNDCT: người Mỹ xây dựng TRNDCT khắp các nơi, theo Musatov thì họ ngu hết à?

Còn người Mỹ cũng qua báo chí tung tin vịt cho những thằng ngốc của chúng ta, rằng Mỹ đã tiến hành xây dựng TRNDCT theo kiểu “khoảng trống”: trạm phát nằm trên lãnh thổ Mỹ, và hai trạm thu ở đảo Síp và Đài Loan. Hơn nữa thông tin này được “khẳng định” bởi những công việc khẩn trương hoàn thành các trung tâm vô tuyến ở Đài Loan và Síp. Điều này giúp thêm cho nhà đặt hàng quân sự (PBO), rồi Viện nghiên cứu liên lạc tầm xa, khi Markov trở thành giám đốc. Sau khi Markov được thăng chức thứ trưởng, ông ta có thể đưa thông qua quyết định xây dựng TRNDCT ở cấp BCH TW và Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô với sự ủng hộ của ủy ban công nghiệp quốc phòng (L.I. Gorskov) và nhà đặt hàng quân sự. Còn người Mỹ khi biết chắc chúng ta dính không gỡ nổi vào cuộc phiêu lưu “bên ngoài chân trời”, họ liền tuyên bố ngừng xây dựng TRNDCT, còn những trạm thu vô tuyến ở Sip và Đài Loan thì chuyển cho cơ quan chặn bắt vô tuyến của CIA.

Nếu không có “Vòng cung”, chúng ta đã có được tầm quan sát tròn quanh Moskva, và thêm 3 trạm “Dunai” 90 độ cho tuyến SPRN phương Bắc. Hơn nữa tầm quan sát vòng tròn dày đặc có thể cung cấp thông tin cho SPRN toàn bộ phần châu Âu của Nga trên tất cả các hướng có hiểm họa tên lửa, thậm chí nếu các nước kế bên như Latvia có tiêu hủy các trạm SPRN của Liên Xô cũ trên lãnh thổ họ.

Thật tương phản với mạng lưới PRO-SPRN ngoài đường chân trời, thủng lỗ cả trong lẫn ngoài của ta, thì ở Mỹ hình thành một trường radar quan sát vòng tròn dày đặc giải sóng decimét, với hướng Liên Xô thì có tới bốn tầng. Trường radar ổn định và có độ sống sót cao, bảo đảm thu thập và phát thông tin với độ tin cậy cao về tính chất và cơ cấu của cuộc tấn công bằng lên lửa liên lục địa vào lãnh thổ Mỹ từ mọi hướng”.

Kết quả là các điệp viên ảnh hưởng đã thắng. Đất nước chịu một thiệt hại kinh tế khổng lồ, tạo ra một đống các thiết bị vô tích sự, hàng trăm nghìn con người làm việc vô ích, những con người tài năng chủ chốt bị loại bỏ, trong đó có cả chính Tổng công trình sư Kisunko. Đặc biệt quan trọng, trong nền tảng hoạt động của điệp viên ảnh hưởng có phương pháp tâm lý để xử lý con người, đặt họ đối chọi với nhau, và cả mối quan hệ với bộ máy của BCH TW. Về những biện pháp tâm lý cụ thể được nói tới ở nhiều chỗ trong cuốn sách.

Tình huống kể trên này không phải là duy nhất. Cả chương trình “Chiến tranh giữa các vì sao” của Mỹ cũng được các điệp viên ảnh hưởng sử dụng làm cơ sở cho một sự tiêu tốn vô ích khổng lồ. Thật thú vị là một trong những yếu tố được sử dụng ở trên là việc công bố kế hoạch “Dropshot”. Những điều tương tự cũng xảy ra ở cấp thấp hơn. Những va chạm, mâu thuẫn trong khoa học và giữa các phòng thiết kế được thổi phồng lên. Ví dụ như sự đối chọi kéo dài giữa các tập thể khoa học lớn trong vật lý laser. Hình thành những trở ngại gay gắt, ngăn cản việc thăng tiến của những người có trí sáng tạo, nhưng khó kiểm soát.

Tất cả những điều mâu thuẫn hàng chục năm giữa viện sĩ Basov và Prokhorov, những người lãnh đạo này trong con mắt người dân bình thường chỉ như sự tranh cãi giữa các ngành, cuộc đấu tranh quan liêu, do phẩm chất cá nhân của con người. Thực ra nó được phối hợp và điều khiển từ bên trên.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.A. Lisichkin & L.A. Selepin – Chiến tranh thế giới thứ III: Cuộc chiến tranh thông tin – tâm lý, TC2 – 1999.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s