Cuộc sống của luật không phải ở logic; mà ở kinh nghiệm

Thẩm phán Tòa án Tối cao Hoa Kỳ Oliver Wendell Holmes

Gần như mọi quốc gia đang phát triển và xã hội chủ nghĩa trước đây đều có một hệ thống quyền sở hữu chính thức. Vấn đề là ở chỗ hầu hết các công dân không thể tiếp cận tới nó. Họ đã đụng phải lồng kính của Fernand Braudel, cái cơ cấu vô hình đó trong quá khứ của phương Tây là cái đã hạn chế chủ nghĩa tư bản trong một khu vực rất nhỏ của xã hội. Sự lựa chọn khả dĩ duy nhất của họ, như chúng ta đã thấy, là rút lui cùng tài sản của mình vào khu vực ngoài pháp luật, nơi họ có thể sống và làm ăn, kinh doanh – nhưng chẳng bao giờ có khả năgn chuyển các tài sản của mình thành tư bản.

Trước khi chúng ta có thể nhấc lồng kính đi, điều quan trọng là phải biết rằng chúng ta không phải là những người đầu tiên thử làm vậy. Như chúng ta sẽ thấy, các chính phủ ở các nước đang phát triển đã cố gắng suốt 180 năm để mở các hệ thống quyền sở hữu của họ cho những người nghèo.

Vì sao họ thất bại? Lý do là họ thường hoạt động với năm quan niệm sai lầm cơ bản:

+ tất cả những người ẩn núp trong khu vực ngoài pháp luật hoặc khu vực ngầm đều làm như vậy để trốn thuế;

+ các bất động sản không được nắm giữ một cách hợp pháp bởi vì chúng không được đo đạc, vẽ bản đồ, và đăng ký một cách phù hợp;

+ ban hành luật bắt buộc về quyền sở hữu là đủ, và các chính phủ có thể bỏ qua các chi phí tuân thủ luật đó;

+ có thể bỏ qua những thỏa thuận ngoài pháp luật hoặc “các khế ước xã hội”;

+ có thể thay đổi cái gì đó căn bản như quy ước của người dân về cách thức họ nắm giữ tài sản, cả hợp pháp và ngoài pháp luật, mà không cần sự lãnh đạo chính trị cấp cao.

Việc giải thích nền kinh tế ngầm của các nước này, trong đó có 50 đến 80% dân số hoạt động, bằng khái niệm trốn thuế, nếu may mắn nhất, chỉ đúng một phần. Hầu hết người dân sử dụng khu vực ngoài pháp luật không phải bởi vì đó là một thiên đường về thuế mà bởi vì luật hiện hành, bất luận được hành văn tao nhã đến đâu, không đáp ứng các nhu cầu hay khát vọng của họ. Ở Peru, nơi nhóm của tôi đã thiết kế một chương trình để đưa các nghiệp chủ nhỏ ngoài pháp luật vào hệ thống hợp pháp, khoảng 276.000 nghiệp chủ ấy đã đăng ký việc kinh doanh của mình một cách tự nguyện tại các văn phòng đăng ký mới mà chúng tôi đã dựng lên để giúp đỡ họ – không hề có hứa hẹn giảm thuế. Công việc kinh doanh ngầm của họ chẳng nộp một đồng tiền thuế nào. Bốn năm sau, thu thuế từ các công ty ngoài pháp luật trước đây đã lên đến 1,2 tỷ USD.

Chúng tôi đã thành công bởi vì chúng tôi đã sửa đổi luật công ty và luật quyền sở hữu để thích ứng với những nhu cầu của các nghiệp chủ quen với các quy tắc ngoài pháp luật. Chúng tôi cũng đã cắt giảm một cách mạnh mẽ các chi phí cho tệ hành chính quan liêu để gia nhập kinh doanh. Điều này không có nghĩa rằng người dân không quan tâm đến hóa đơn thuế của họ. Nhưng các nhà sản xuất và chủ cửa hiệu ngoài pháp luật – những người hoạt động với lãi gộp mỏng như lưỡi dao cạo, tính bằng cent chứ không phải bằng đôla – biết rõ số học cơ bản. Tất cả những cái mà chúng tôi phải làm là đảm bảo rằng các chi phí của hoạt động hợp pháp thấp hơn các chi phí để sống sót trong khu vực ngoài pháp luật, tạo thuận lợi cho công việc giấy tờ để hợp pháp hóa, cố gắng tuyên truyền những ưu điểm của chương trình, và sau đó là nhìn hàng trăm ngàn nghiệp chủ vui sướng từ bỏ khu vực ngầm.

Ngược với nhận thức phổ biến, hoạt động trong khu vực ngầm chẳng phải không có chi phí. Các hoạt động kinh doanh ngoài pháp luật bị mệt mỏi bởi sự thiếu vắng luật quyền sở hữu đúng đắn và bởi việc liên tục phải che giấu hoạt động của họ trước các nhà chức trách. Bởi vì họ không được thành lập như công ty, các nghiệp chủ ngoài pháp luật không thể thu hút các nhà đầu tư bằng cách bán cổ phần; họ không thể tìm được tín dụng chính thức có lãi suất thấp bởi vì họ thậm chí chẳng có các địa chỉ hợp pháp. Họ không thể giảm rủi ro bằng cách tuyên bố trách nhiệm hữu hạn hoặc nhận được bảo hiểm. Khoản “bảo hiểm” duy nhất sẵn có cho họ là cái được cung cấp bởi hàng xóm của họ và sự bảo vệ mà bọn đầu gấu hoặc mafia địa phương sẵn lòng bán cho họ. Hơn thế nữa, bởi vì các nghiệp chủ ngoài pháp luật sống trong sự sợ hãi liên miên về sự phát hiện của chính quyền và sự tống tiền từ các quan chức tham nhũng, nên họ buộc phải chia tách và ngăn chia các phương tiện sản xuất của họ ra nhiều địa điểm, và nhu thế hiếm khi đạt được tính kinh tế nhờ quy mô. Ở Peru, 15% tổng thu nhập công nghiệp ở khu vực ngoài pháp luật được trả ở dạng đút lót, từ “hàng mẫu miễn phí” và “các món quà” đặc biệt đến toàn tiền mặt. Với một con mắt luôn luôn ngó xem có cảnh sát không, các nghiệp chủ ngoài pháp luật không thể quảng cáo công khai để tập hợp khách hàng hoặc tiến hành giao hàng cả lô với chi phí thấp nhất cho các khách hàng.

Nghiên cứu của chúng tôi ở các nước mà chúng tôi đến làm việc đã cho thấy rằng việc thoát khỏi các chi phí và phiền toái của khu vực ngoài pháp luật thường bù đủ cho việc đóng thuế. Bất luận bạn ở trong hay ở ngoài lồng kính, bạn đều bị đánh thuế. Yếu tố quyết định liệu bạn vẫn ở lại bên ngoài hay không là chi phí tương đối để trở nên hợp pháp.

Quan niệm sai lầm chủ yếu khác là các bất động sản không thể được đăng ký một cách hợp pháp trừ khi chúng được đo đạc, vẽ bản đồ, và làm hồ sơ với công nghệ thông tin bản đồ hiện đại. Điều này, cũng vậy, may mắn nhất cũng chỉ đúng một phần. Những người châu Âu và người Mỹ đã tìm được cách để lập hồ sơ tất cả các bất động sản của họ nhiều thập kỷ trước khi các máy tính và các hệ thống thông tin bản đồ (GIS), được sáng chế ra. Như chúng ta đã thấy, suốt thế kỷ XIX, việc đo đạc đất mới được định cư ở Hoa Kỳ đã tụt lại nhiều năm sau việc chuyển nhượng các quyền sở hữu. Ở Nhật Bản, tôi đã khảo sát hồ sơ có tại các văn phòng đăng ký và thấy rằng, một số hồ sơ tài sản đất đai đã được lập sau Chiến tranh thế giới thứ hai sử dụng cá bản đồ từ thời Edo – ba đến bốn thế kỷ trước khi chụp ảnh từ trên không và các hệ thống định vị toàn cầu (GIS) được sáng chế ra.

Điều này không có nghĩa rằng máy tính hiện đại và các hệ thống thông tin bản đồ GIS là không quan trọng đối với các nỗ lực của chính phủ trong việc mở cửa hệ thống quyền sở hữu của nó cho những người nghèo. Cái chính của nó là sự vốn hóa thấp phổ biến, việc lấn chiếm đất và xây nhà cửa bất hợp pháp ở khắp thế giới ngoài phương Tây hẳn không phải là do thiếu công nghệ thông tin và công nghệ bản đồ hiện đại gây ra.

Lồng kính Braudel được làm không phải bằng thuế, bản đồ và máy tính, mà là bằng luật. Cái ngăn cản hầu hết dân chúng ở các quốc gia đang phát triển và xã hội chủ nghĩa trước đây không sử dụng được các quyền sở hữu chính thức hiện đại để tạo vốn chính là một hệ thống pháp luật và hành chính tồi. Bên trong lồng kính là những người ưu tú nắm giữ quyền sở hữu được sử dụng và bảo vệ bởi đủ loại thỏa thuận ngoài pháp luật dựa trên sự đồng thuận phi chính thức phân tán qua những vùng rộng lớn. Các khế ước xã hội này là hiện thân của những hiểu biết tập thể về cách thức mà các thứ được sở hữu và các chủ sở hữu quan hệ với nhau ra sao. Tạo dựng một khế ước xã hội quốc gia về quyền sở hữu cần đến sự hiểu biết các quá trình tâm lý và xã hội – những niềm tin, khát vọng, ý định, tập quán, và các quy tắc – những cái được chứa đựng trong các khế ước xã hội này và sau đó dùng các công cụ mà luật chuyên nghiệp cung cấp để khâu chúng lại thành một khế ước xã hội quốc gia chính thức. Đấy cũng là cái mà các quốc gia phương Tây đã đạt được chưa thật lâu lắm.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Hernando de Soto – Bí ẩn của vốn – NXB CTQG 2016.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s