Đường vào ngõ cụt

Tới đầu thập niên 70, Liên Xô đã có một tiềm năng công nghiệp và quốc phòng hùng mạnh, đạt được sự cân bằng với phương Tây về lĩnh vực vũ khí chiến lược, rút ngắn rất nhiều khoảng cách với Mỹ về trình độ sản xuất, tạo được khả năng tiến lên phía trước thành công. Nước Mỹ có một nhiệm vụ phải kìm hãm tốc độ phát triển của Liên Xô. Vào lúc này, vị thế của các nhà tư tưởng đã được vững chắc, và họ tiến hành một loạt biện pháp để thay đổi phương hướng. Mỗi một biện pháp bề ngoài có vẻ là ngẫu nhiên, thậm chí có cơ sở nữa. Nhưng về tổng thể chúng sẽ đưa đất nước vào ngõ cụt.

Như đã nói, các công nghệ tiên tiến và ngành sản xuất mang đậm tính khoa học đã bắt đầu có tác động quyết định tới nền kinh tế và tốc độ tăng trưởng. Nhưng đất nước lại chọn phương án phát triển dựa vào khai thác nguyên liệu thô, điều này về nguyên tắc sẽ dẫn tới giảm nhịp độ và tụt hậu. Việc chọn phương án cũng có lý do. Phương án này được đề nghị như là phương án tạm thời, cho phép nhanh chóng có được thu nhập, đặc biệt là với dầu khí, và cũng để bù lại chi phí to lớn cho quốc phòng (mà phần lớn chi phí là vô nghĩa hay do điệp viên ảnh hưởng tạo ra, như đã nói ở trên). Sản lượng khai thác dầu khí tăng đột biến, những đường ống dẫn dầu được kéo tới châu Âu. Cái phương án tạm thời đó đã biến thành phương án cố định.

Đồng thời ở Liên Xô vẫn xuất hiện khả năng đi theo con đường xây dựng công nghệ cao, hơn hẳn các nước khác. Hơn nữa công việc ban đầu ở hướng này còn vượt trội so với trình độ thế giới. Vấn đề là ở chỗ ngay từ sau chiến tranh, theo sáng kiến của Stalin, đã có sự gia tăng mạnh tài trợ cho khoa học, tầm mức của nó lớn nhanh và tổ chức cũng được hoàn thiện. Thậm chí có thể nói về một bình minh của khoa học cơ bản ở Liên Xô. Khối lượng của nó được đánh giá bằng 1/3 hay 1/4 nền khoa học cơ bản thế giới. Mọi người phải công nhận chất lượng đào tạo khoa học ở Liên Xô rất cao. Ví dụ, khi việc trao đổi nghiên cứu sinh diễn ra trong những năm 80, nhiều nghiên cứu sinh Tây Âu đã phải mất thêm một năm nữa để có được trình độ tiêu chuẩn của MGU.

Khác với phương Tây, nơi điều căn bản là áp dụng kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn, thì ở Liên Xô tồn tại một khoảng cách giữa khoa học cơ bản và việc áp dụng kết quả của nó. Việc phát triển khoa học cơ bản (ở viện cũng như trường đại học) được coi như mục đích chính. Trong giới trí thức khoa học có hình ảnh khoa học như là giá trị cao nhất, thuộc về cả thế giới. Việc áp dụng vào thực tiễn gần như không được khuyến khích, có nghĩa là khoảng cách giữa khoa học cơ bản và khoa học bổ trợ được ủng hộ từ trên. Điều này làm giảm mạnh hiệu quả nghiên cứu. Tại phương Tây, khi áp dụng những công nghệ mới của mình, họ sử dụng khoa học cơ bản của Xôviết như nguyên liệu nền tảng. Đó là một trong những thành tố quan trọng của sự đột phá công nghệ của Mỹ trong những năm 70 – 80.

Liên quan đến công nghệ, thì nhiều công trình khoa học bổ trợ vượt xa trình độ thế giới, được áp dụng trong công nghiệp quốc phòng. Do có sự phân cách giữa các ngành công nghiệp quốc phòng và dân dụng, nên những công nghệ đã đạt được không được áp dụng trong dân sự, viện cớ giữ bí mật. Trong khi đó đất nước bị thiệt hại to lớn. Các công trình về công nghệ thông tin, , điều dẫn đóng vai trò quyết định trong tiến bộ khoa học – kỹ thuật, cũng bị kìm hãm, lấy cớ không đủ phương tiện hay ưu tiên hướng khác quan trọng hơn. Được ưu tiên hàng đầu là những đề án đầy tham vọng to lớn, hoặc dự án sẽ cho kết quả trong tương lai rất xa. Những đề án khổng lồ không thể kiểm soát sẽ có lợi cho người thực hiện và rất được ủng hộ. Toàn bộ hành động của đội quân thứ năm đưa tới việc kìm hãm tốc độ phát triển và phá vỡ tổ chức của nền kinh tế, tạo cho nó tính mất cân bằng.

Sự cần thiết phải chuyển đổi cơ cấu trong nền kinh tế, tạo cho nó tính cân bằng đã được nhận ra ở Trung Quốc, một phần ở Hungary. Nó cũng được Kosưgin lên kế hoạch, nhưng cuối cùng bị người ta vứt bỏ. Ý nghĩa hành động của các nhà tư tưởng là phối hợp các nỗ lực nhằm mục đích kìm hãm sự phát triển kinh tế của đất nước, dựa vào lý lẽ vi phạm các nguyên tắc của chủ nghĩa Marx – Lenin.

Mất niềm tin…

Giai đoạn hai của cuộc chiến tranh thông tin – tâm lý, kéo dài một phần tư thế kỷ (1960 – 1985) mang tính chất tiến hóa. Bề ngoài mọi thứ đều thay đổi rất chậm và khó nhận thấy. Trọng tâm được đặt vào sự biến đổi từ từ. Nhưng quá trình vẫn tiến triển và được hướng dẫn bởi đội quân thứ năm đã kiểm soát được quyền lực trong nước. Lĩnh vực tư tưởng và sự bộc lộ của các nhà tư tưởng ngày càng có tính tách rời khỏi cuộc sống. Trong các cuộc nói chuyện với nhau người ta thường nói về họ với từ “ngu ngốc”. Việc áp dụng các công nghệ cao cấp bị kìm hãm, trong khi khoa học cơ bản phát triển rất mạnh. Trong ngoại thương thì xu hướng nguyên liệu thô đã được khẳng định. Về việc tổ chức những chi phí vô ích khổng lồ được nói tới trong cuốn sách của Kisunko.  Cơ cấu điều hành phần lớn được thay thế bằng hệ thống các mối quan hệ cá nhân. Một trong những điểu kiện để hoàn thành công việc tốt đẹp là danh sách những con người trong các Tổng cục, các Bộ tham gia thực tế vào giải quyết công việc. Quan tâm hàng đầu không phải là quyền lợi đất nước, mà là khả năng thu lợi lộc. Những chuyến đi nước ngoài và mối quan hệ đóng vai trò rất lớn.

Kết quả quyết định của giai đoạn hai – đó là đánh mất niềm tin mà đã từng liên kết mọi người. Niềm tin đóng vai trò quyết định trong thời kỳ khó khăn, nó liên kết mọi người xung quanh lãnh tụ của mình: Dmitri Donski, Sergei Radonhezki, Kozma Mimin, Dmitri Pozarski, Piortr Đệ nhất.  Iosif Stalin ở những thời kỳ khác nhau: Thời kỳ đen tối, chiến tranh năm 1912, cuộc nội chiến và Chiến tranh Vệ quốc. Nó có nhiều dạng khác nhau, nhưng cùng một bản chất sâu xa. Còn về niềm tin vào CNXH, thì nó đã bị chiến dịch chống Stalin do các nhà tư tưởng triển khai kéo dài hàng chục năm hủy hoại, lăng mạ Xôviết, và những lời khen ngợi Lenin mang tính đả kích. Những vị ngồi trên “ngai vàng” sau này như Breznhev, Chernhenko nhiều lắm cũng chỉ đưa lại cảm giác thương hại. Nếu như trước đây đất nước còn có nhịp độ tăng trưởng vượt xa mức độ thế giới, thì tới đầu thập niên 80 nó giảm xuống đột ngột. Còn khoảng cách về công nghệ ngày càng tăng không có lợi cho Liên Xô. “Chủ nghĩa Marx – Lenin” nói chung và “chủ nghĩa cộng sản khoa học” nói riêng được các nhà tư tưởng cổ động, tới đầu những năm 80 được nhiều người coi như một thủ tục bắt buộc, không liên quan gì tới thực tiễn.

Khoảng chân không tư tưởng tạo thành dần dần được lấp đầy nội dung mới. Các lợi ích sắc tộc và khu vực được đưa lên trước. Còn Đảng Cộng sản Liên Xô mang cấu trúc băng nhóm đầy màu sắc. Trong điều kiện một đất nước đa sắc tộc rộng lớn, thì điều này mang một mối nguy hiểm tiềm ẩn to lớn. Nhân đây, có một trường hợp tương tự từ năm 1918 được mô tả trong cuốn sách của V.V. Zirinovski:

Khi đó, vào năm 1918, Churchill tất nhiên hiểu là nước Nga chẳng đe dọa gì cho Anh quốc, nhưng không muốn từ bỏ ý nghĩ là đã tới thời điểm thích hợp để làm suy yếu và chia rẽ quốc gia to lớn ấy. Đại sức Anh ở Paris, huân tước Berty đã viết về “cái gọi là nhân dân Nga”: “Cái như vậy nói chung là không tồn tại. Với chúng ta nó không là gì khác ngoài một khối những sắc tộc khác nhau, bị đánh tan từng mảnh”. Tiếp theo: “Nước Nga không còn nữa! Nó đã tan rã… Nếu như chúng ta có thể đạt được nền độc lập cho các quốc gia vùng đệm ở phía đông nước Đức, tức là Phần Lan, Estonia, Ukraine… thì theo tôi phần còn lại sẽ tan biến”.

Tới cuối giai đoạn hai, bắt đầu nổi rõ các thế lực quyền lợi đi ngược lại với chế độ hiện hành. Thế lực thứ nhất, đó là chính chóp bu của Đảng Cộng sản Liên Xô. Một phần trong số này ngoi lên nhờ sự nịnh bợ, a dua, hay phản bội lại những người thầy cũ của mình. Số khác thông qua sự phân phối ngầm hàng hóa, lừa đảo. Đám thứ ba nhờ vào sự che chở của “cánh hẩu”, tiêu diệt những kẻ “ngoi đầu lên”. Có được khả năng kiếm lợi thông qua việc phân phối tài chính, nhà ở, tài sản, những kẻ phân phối này có mục tiêu là nắm lấy quyền lực kinh tế để tạo và chiếm đoạt tư bản cho mình.

Thế lực thứ hai là những kẻ giấu mặt, đã kiếm được khá nhiều tiền của. Với họ điều quan trọng là hợp pháp hóa chúng và tiến tới quyền lực thật sự.

Thế lực thứ ba – một lớp đang gia tăng những người “thừa” trong giới trí thức. Tới thập kỷ 80, Liên Xô chiếm khoảng 1/4 số cán bộ khoa học của toàn thế giới, nhưng hiệu quả công việc của họ giảm mạnh. Nhiều người tốt nghiệp đại học, trở thành phó tiến sĩ, có một khả năng tranh đua nhất định, có cảm giác khinh bỉ đối với “quyền lãnh đạo”, có ảo tưởng hiểu biết mọi vấn đề. Nhưng trong đời sống thực tế, học vấn của họ thường là vô dụng: trong nhà máy thì chèn ép xô đẩy, trong các viện thì giả bộ làm việc. Xuất hiện cảm giác công việc thì vô nghĩa, số phận không thành đạt, con người thiếu giá trị. Người ta thấy nguyên nhân không phải ở họ, mà là tại chế độ.

Một yếu tố quan trọng khác liên quan tới tình trạng sạch sẽ tư tưởng do các nhà tư tưởng của Đảng Cộng sản Liên Xô tạo ra trong nước, không cho phép tranh luận những ý tưởng và lý luận mới, gán cho chúng là duy tâm, và chỉ được sử dụng “chủ nghĩa Marx – Lenin”. Bởi vậy, giống như những người sao Hỏa trong cuốn “Chiến tranh giữa các thế giới” của Wells,  không có được khả năng miễn dịch đối với vi trùng, và đã chết trong điều kiện trái đất. Quần chúng cũng thiếu khả năng miễn dịch đối với tác động tuyên truyền tâm lý trực tiếp, và hậu quả là đã không được bảo vệ. Như vậy, nhiều điều mà trước đó ta có cảm tưởng như vở kịch ngớ ngẩn, thực ra là kết quả của các chiến dịch được thực hiện một cách tuyệt vời.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.A. Lisichkin & L.A. Selepin – Chiến tranh thế giới thứ III: Cuộc chiến tranh thông tin – tâm lý, TC2 – 1999.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s