Devon Douglas-Bowers

….

Vai trò của BIS đã nhanh chóng thay đổi khi cuộc Đại Suy thoái bắt đầu, nó không thể “giữ vai trò của người cho vay cuối cùng, mặc dù đã có những nỗ lực đáng ghi nhận trong việc tổ chức tín dụng hỗ trợ cho cả các ngân hàng trung ương Áo và Đức năm 1931”. Và do cuộc Đại Suy thoái, vấn đề bồi thường đã bị bỏ qua do Đức không còn khả năng thanh toán. Vấn đề càng trở nên phức tạp khi các nước như Anh và Mỹ bắt đầu phá giá đồng tiền của mình (tức in thêm tiền) và BIS đã cố gắng nhiều lần để chấm dứt tình trạng mất ổn định tỷ giá bằng cách khôi phục lại bản vị vàng, “BIS đã không còn sự lựa chọn nào ngoài tự giới hạn trong việc thực hiện các giao dịch cho các ngân hàng trung ương và cung cấp một diễn đàn cho các thống đốc ngân hàng trung ương để giúp họ duy trì liên lạc.”[22] Trong suốt Thế chiến II, tất cả các hoạt động đã bị đình chỉ trong thời gian xung đột, tuy nhiên tình hình trở nên rủi ro cho Ngân hàng khi súng ngừng bắn.

Ngay sau Thế chiến II, bối cảnh kinh tế toàn cầu đã thay đổi rất nhiều và do đó cần có một hệ thống mới. Tháng 7/1944, hơn 700 đại biểu của các nước Đồng minh đã gặp gỡ tại khách sạn Mount Washington ở Bretton Woods, NH để tham dự Hội nghị Tài chính và Tiền tệ Liên hợp quốc. Hội nghị này đã “thống nhất thành lập Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Quốc tế về Tái thiết và Phát triển (IBRD), ngân hàng này sau đã trở thành một phần của Ngân hàng Thế giới”[23]. Theo đó, IMF sẽ giám sát tỷ giá hối đoái và cho vay tiền tệ dự trữ cho các quốc gia mắc nợ. Một hệ thống trao đổi tiền tệ toàn cầu mới đã được tạo ra, trong đó tất cả các loại tiền tệ được gắn với đồng đô la Mỹ và để đổi lại Mỹ đã đồng ý cố định giá vàng ở mức 35 USD/ounce.

Tất cả những điều này có nghĩa là sẽ không cần có một cuộc chiến tranh hoặc thao túng tiền tệ nào. Điều này đã chứng tỏ một mối đe dọa đối với BIS khi IMF sắp trở thành trung tâm của trật tự tài chính toàn cầu mới này. Vậy thì cần gì đến BIS? Wilhelm Keilhau, một thành viên của phái đoàn Na Uy, thậm chí còn đề xuất ý kiến để loại bỏ BIS. Tuy nhiên, Ngân hàng này vẫn tiếp tục tồn tại bởi nhiều quốc gia châu Âu khác đã ghi nhận tầm quan trọng của nó đối với các vấn đề tài chính của lục địa châu Âu và chẳng mấy chốc đề xuất loại bỏ ngân hàng đã bị huỷ. Tình hình vẫn ổn định cho đến những năm 1960 và 70 bởi trong khi hệ thống “chuyển đổi tiền tệ tự do theo tỷ giá cố định” Bretton Woods thích hợp với sự gia tăng trong tăng trưởng kinh tế và thương mại quốc tế, các vết nứt đã bắt đầu xuất hiện khi đồng tiền Anh yếu đi và quan trọng hơn, cơ sở ngang giá vàng theo đồng đô la Mỹ trở nên căng thẳng do “thiếu cung vàng và từ sự suy yếu cán cân thanh toán của Mỹ.”[24] Hệ thống Bretton Woods sụp đổ vào tháng 8/1971; tuy nhiên hệ thống ‘thả nổi có điều tiết’ đã được tạo ra để thay thế nó, cho phép linh hoạt tỷ giá trong chừng mực những giới hạn nhất định.

Vào cuối những năm 1970, tình hình trở nên trầm trọng hơn do việc thành lập OPEC và sự gia tăng giá dầu liền theo đó, cũng như sự sụp đổ của Ngân hàng Herstatt. Ngân hàng Herstatt đóng vai trò trung tâm trong việc xử lý các yêu cầu về ngoại hối (người dân trao đổi tiền tệ, chẳng hạn đổi đô la Mỹ lấy đồng Yen) và khi các nhà lãnh đạo Đức thu hồi giấy phép của ngân hàng này, buộc nó phải đóng cửa vào ngày 26/6/1974. Trong khi đó, “đang là buổi sáng ở New York, nơi các đối tác của Herstatt đang mong đợi nhận được tiền đô la Mỹ để đổi lấy số đồng mark Đức mà họ đã chuyển.”[25] Và khi ngân hàng thanh toán Chase Manhattan của Hersttat từ chối thực hiện các lệnh bằng cách đóng băng tài khoản của Herstatt, nó đã gây ra một chuỗi các khoản nợ xấu. Chính vấn đề này đã dẫn tới việc thành lập, cùng với các nước G-10 và Thụy Sĩ, Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng. Mục tiêu của Ủy ban này là thiết lập tiêu chuẩn toàn cầu về điều tiết ngân hàng và tạo ra một diễn đàn về các vấn đề giám sát ngân hàng.

Tuy nhiên, sự ổn định mới được tạo ra này đã không tồn tại lâu khi những năm 1980 và 1990 chứng kiến ​​các vấn đề kinh tế nghiêm trọng liên quan đến châu Mỹ Latin và châu Á.

Giá dầu tăng gấp bốn lần vào tháng 11/1973, dẫn đến tình trạng mất ổn định, gia tăng thâm hụt cán cân thanh toán và những cú sốc lớn trong hoạt động ngân hàng quốc tế. Các thị trường tiền tệ châu Âu đang tăng trưởng khi chúng bắt đầu được các nước OPEC sử dụng ngày càng nhiều do các quốc gia sản xuất dầu mỏ đầu tư vào các thị trường tiền tệ châu Âu, làm gia tăng đáng kể số tiền mà các ngân hàng châu Âu nắm giữ và do đó có thể cho vay. Do vậy, Cộng đồng Than và Thép châu Âu đã bắt đầu cho các quốc gia đang phát triển vay với nhịp độ ngày càng nhanh hơn. Và trong khi điều này chủ yếu mang lại lợi ích cho nền kinh tế thế giới vào lúc khởi đầu, “nó cũng ngụ ý rằng hệ thống ngân hàng quốc tế phải đối mặt với sự gia tăng rủi ro quốc gia,”[26] bởi nhiều quốc gia được cho vay trở nên ngày càng lún sâu vào nợ nần. Điều này khiến Chuyên gia kinh tế lúc bấy giờ của BIS, Alexandre Lamfalussy, quan ngại. Ông là người đã cảnh báo mối đe dọa về một cuộc khủng hoảng và ông đặc biệt tập trung vào tín dụng. Trong một bài phát biểu năm 1976, ông nói rằng từ việc “[xem xét]… sự tăng trưởng liên tục của tín dụng, sự lan rộng của rủi ro tới nhiều quốc gia, và sự thay đổi trong bản chất của các khoản tín dụng – tôi rút ra kết luận rằng vấn đề rủi ro đã trở nên vô cùng cấp bách.”[27]

Trong khi lãi suất thực (sự khác biệt giữa lãi suất tiết kiệm và tỷ lệ lạm phát hàng năm) là âm trong những năm 1970, có nghĩa là người vay mất đi một tỷ lệ phần trăm nhất định trên mỗi đô la họ cho vay, cho phép gia tăng tín dụng, nó nhanh chóng bị dừng lại vào năm 1979 khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ thắt chặt chính sách tiền tệ của nước mình dẫn đến gia tăng các khoản nợ mà nhiều nước Mỹ Latin không thể trả nổi.

BIS lo lắng về khoản nợ mà sẽ đến hạn trong vòng chưa đầy một năm nữa, bởi cho đến đầu năm 1982, khoản nợ đó sẽ bằng một nửa số nợ tương ứng của Mexico và Argentina. Vào ngày 12/8/1982, Mexico đã cảnh báo Mỹ rằng dự trữ tài chính của quốc gia này đã cạn kiệt. Điều này thúc giục BIS phải nỗ lực để thu hút hỗ trợ tài chính cho Mexico dưới hình thức các khoản cho vay, khi chính phủ Mexico đàm phán với IMF. Cụ thể, BIS “đã đề nghị một khoản vay 925 triệu USD, được hỗ trợ bởi các ngân hàng trung ương G10 và Ngân hàng Tây Ban Nha” và cả Cục dự trữ Liên bang và Kho bạc Mỹ “cũng đã đề nghị một khoản tiền tương đương, do đó tổng cộng 1,85 tỷ USD đã được chuẩn bị sẵn sàng cho thời hạn ban đầu là ba tháng.”[28] Trong khi có những vấn đề vào phút cuối, Mexico cuối cùng đã chấp nhận khoản vay và đưa ra cam kết sẽ trả lại, “[bao gồm] một thế chấp bằng vàng của Ngân hàng Mexico và các yêu cầu tạm ứng đối với doanh thu trong tương lai của công ty dầu mỏ quốc doanh Pemex của Mexico.” Khoản vay đầu tiên được trả vào ngày 30/8/1982.

Tuy nhiên, khoản vay được gắn với các biện pháp thắt lưng buộc bụng do chính phủ Mexico thực hiện.[30] Điều này gây ra những tác động nghiêm trọng bởi việc cắt giảm chi tiêu công “đã cản trở các chương trình phát triển, bao gồm cả các chương trình xóa đói giảm nghèo”[31] và những ảnh hưởng kinh tế nói chung đã làm tổn hại “đặc biệt là các tầng lớp nghèo và trung lưu. Đối với người lao động Mexico, mức lương thực tế trong năm 1986 ở mức gần như cùng mức mà họ nhận được vào năm 1967; đối với nhiều người, một thế hệ của tiến bộ kinh tế đã bị xóa sổ bởi “thập kỷ mất mát” của những năm 1980.”[32]

Vào cuối những năm 90 ở châu Á, một cuộc khủng hoảng mới xuất hiện. Tỷ lệ GDP bùng nổ mạnh mẽ ở các thị trường châu Á, từ “hơn 5% ở Thái Lan đến 8% ở Indonesia. Thành tựu này đã nối tiếp một mô hình tồn tại từ đầu những năm 1980. Tăng trưởng nhanh chóng được thúc đẩy bởi tỷ lệ tăng trưởng cao”[33]. Tuy nhiên, tăng trưởng bắt đầu chậm lại vào năm 1996, điều này “phản ánh sự gia tăng chậm lại của nhu cầu trong các thị trường xuất khẩu chính của khu vực, một sự suy giảm trong ngành công nghiệp điện tử toàn cầu và sự cạnh tranh từ Trung Quốc Đại lục.”[34] Sự suy thoái này dẫn đến gia tăng tỷ lệ thâm hụt, đặc biệt là với Thái Lan, với mức thâm hụt 8% GDP. Trong một nỗ lực nhằm ngăn ngừa biến động của đồng nội tệ Thái Lan, đồng baht, chính phủ đã gắn giá trị của đồng baht vào một giỏ ngoại tệ, chủ yếu dựa vào đồng đô la Mỹ. Tuy nhiên, do đồng đô la tăng giá, giá của đồng baht cũng tăng lên, làm cho việc xuất khẩu hàng hoá trở nên khó khăn hơn.

Thái Lan, cũng như Indonesia, Philippines, và Malaysia đã giảm giá đồng tiền của mình ở mức 25-33% vào giữa năm 1997 khi Đài Loan bắt đầu phá giá tiền tệ của mình. Điều này dẫn đến một cuộc tấn công tiền tệ mang tính đầu cơ vào Hồng Kông, trong đó người ta bán đô la Hồng Kông, hy vọng rằng đồng tiền này sẽ giảm giá trị. Điều này đã khiến cho thị trường chứng khoán Hồng Kông sụp đổ vào tháng 10/1997, trong khi đồng thời đồng won của Hàn Quốc lại yếu đi về giá trị. Từ đó cuộc khủng hoảng đã tăng lên đến mức toàn cầu và lan rộng đến một số nước như Nga và Jakarta.

Thái Lan cũng như Hàn Quốc và Indonesia đã phải yêu cầu IMF hỗ trợ, điều mà IMF tất nhiên đã đồng ý, nhưng chỉ khi để đổi lấy các biện pháp thắt lưng buộc bụng khắc khổ. Phần lớn điều này đã dẫn đến bạo lực và thậm chí là tử vong ở Indonesia và các cuộc biểu tình ở Hàn Quốc.[35]

Điều thú vị nhất về cuộc khủng hoảng là cách mà các nhà lãnh đạo của một số nước bị ảnh hưởng đã nói về nó. Tiến sĩ Mahathir Bin Mohamad, cựu Thủ tướng Malaysia, tuyên bố trong một bài phát biểu vào ngày 26/9/2008 rằng “trong năm 1997-98, các quỹ phòng hộ của Mỹ đã phá hủy nền kinh tế của các nước nghèo bằng cách lũng đoạn đồng tiền quốc gia của họ”. Cần lưu ý rằng điều này không chỉ đơn giản là thái độ “đổ lỗi cho Mỹ”, bởi Tiến sĩ Mohamad đã được “công nhận là người có thẩm quyền đối với vai trò của các quỹ phòng hộ trong các cuộc khủng hoảng tài chính, do có kinh nghiệm quản lý cuộc khủng hoảng tiền tệ Châu Á khi nó nhấn chìm đất nước của ông.”[36] Ngân hàng Dự trữ Australia “đã đưa ra hai báo cáo vào năm 1999 về vai trò huỷ hoại tiềm ẩn của các thể chế có tỷ suất vay nợ cao như các quỹ phòng hộ.” Các báo cáo này tuyên bố rằng “các quỹ phòng hộ đã góp phần làm mất ổn định tỷ giá hối đoái vào năm 1998 và nó mô tả cách mà các quỹ phòng hộ có thể gây ra một tác động gây mất ổn định đối với không chỉ tiền tệ của các nền kinh tế mới nổi mà còn với các tiền tệ như đồng đô la Australia, loại tiền tệ có khối lượng giao dịch lớn thứ tám trên toàn cầu”[37]

Trong một báo cáo được viết vào đầu năm 1999 sau khi cuộc khủng hoảng kết thúc, William R. White, Cố vấn kinh tế và Vụ trưởng Vụ Tiền tệ và Kinh tế tại Ngân hàng Thanh toán Quốc tế lúc bấy giờ, đã viết rằng: “Nhiều cơ quan chính quyền các nước châu Á – Thái Bình Dương (gồm đại diện từ Australia, Hồng Kông và Malaysia) cảm nhận một cách mạnh mẽ rằng các quỹ phòng hộ đã được khởi đầu một cách có hệ thống để gây ra bất ổn cho tiền tệ và thị trường tài chính của họ. Tuy nhiên, bằng chứng khác lại ít thuyết phục hơn trong việc hỗ trợ giả thuyết này, và thậm chí nếu được chấp nhận, cũng không nhất thiết dẫn đến kết luận rằng các quỹ này nên được điều tiết.”[38]

Vì vậy, ông không chỉ phủ nhận bằng chứng mà Tiến sĩ Mohamad đưa ra, cũng như của Ngân hàng Dự trữ Australia, mà còn tuyên bố chắc chắn rằng ngay cả khi ông chấp nhận thông tin đó, thì rồi sao? Tuy nhiên, nhiều năm sau, trong một bước ngoặt trớ trêu, White đã cảnh báo về cuộc khủng hoảng toàn cầu khi ông và nhóm của mình chú ý đến bong bóng bất động sản ở Mỹ. Họ “đã chỉ trích ngành kinh doanh chứng khoán hoá ngày càng khó thâm nhập, chỉ trích gay gắt mối nguy hiểm của các khoản cho vay rủi ro và cung cấp bằng chứng về sự thiếu sự tín nhiệm của các tổ chức đánh giá.” Ông đã bắt đầu cảnh báo mọi người vào năm 2003, “[nhắc nhở] các thống đốc ngân hàng trung ương suy xét lại chiến lược của họ, nhấn mạnh rằng sự bất ổn trong các thị trường tài chính đã gây ra lạm phát, là “kẻ xấu” trong nền kinh tế toàn cầu.”[40] White nghỉ hưu tại BIS vào ngày 30/6/2008 với việc lời khuyên của ông bị bỏ qua.

Điều này là do một thực tế rằng Cục dự trữ liên bang Mỹ đã cố gắng “dựng nên một cách giả tạo những thị trường này [nợ xấu và tài sản không có giá trị] và giữ cho các tài sản đó được giao dịch tại các mức giá cao hơn giá trị thị trường thực tế.”[41] Điều này cho phép họ cung cấp “16 nghìn tỷ đô la cho các ngân hàng trong và ngoài nước dưới hình thức các khoản vay bí mật và mua chứng khoán được thế chấp mà trong thực tế là hoàn toàn không có giá trị”[42], cũng như thực tế rằng nhiều người trong ban giám đốc tại Cục dự trữ liên bang cũng có kết nối với các công ty nhận được tiền cứu trợ.

Thậm chí vậy, sau khi cuộc khủng hoảng tài chính dường như đã kết thúc, BIS đã phát đi báo động về nợ. Vào tháng 6/2010, tổ chức này “đã gửi một thông điệp nghiêm khắc đến các ngân hàng trung ương và các chính phủ rằng việc giữ lãi suất thấp quá lâu, hoặc không hành động nhanh để cắt giảm thâm hụt ngân sách, có thể gieo hạt giống cho cuộc khủng hoảng tiếp theo.”[43] Đầu năm đó, tổ chức này đã cảnh báo về một cuộc khủng hoảng nợ chính phủ và đã lưu ý rằng “Các biện pháp thắt lưng buộc bụng quyết liệt sẽ là cần thiết để bắt đầu một vòng xoắn lợi ích phức hợp, nếu nó vẫn là chưa quá muộn để bắt đầu [các biện pháp này].”[44] Dường như, từ các biện pháp thắt lưng buộc bụng được ban hành ở châu Âu và Mỹ, lời kêu gọi đã được lắng nghe. Câu hỏi đặt ra là: mức độ tàn phá của điều này sẽ lớn như thế nào và liệu nó sẽ dẫn đến một ‘thế hệ bị mất mát’ như trong những năm 1980 ở Mexico hay không?

Biên dịch: Lê Thị Hồng Loan

Hiệu đính: T.Giang – SCDRC

Nguồn: “One Bank to Rule Them All: The Bank for International Settlements”, Devon Douglas-Bowers, Globalresearch.ca, 09/10/2015

Devon Douglas-Bowers, 23 tuổi, là một nhà báo và nhà nghiên cứu độc lập và là Trưởng ban Chính trị/Chính phủ của Viện Hampton. Địa chỉ liên lạc devondb [at] mail [dot] com.

Chú thích

22: Bank for International Settlements, BIS Archive Guide,http://www.bis.org/about/arch_guide.pdf

23: Adam Lebor, Tower of Basel (New York: Public Affairs, 2013) pg 87

24: Bank for International Settlements, BIS Archive Guide,http://www.bis.org/about/arch_guide.pdf

25: Gregana Koleva, “Icon of Systemic Risk Haunts Industry Decades After Demise,” American Bankerhttp://www.americanbanker.com/bankthink/bankhaus-herstatt-icon-of-systemic-risk-1039312-1.html (June 23, 2011)

26: Piet Clement, Ivo Maes, “The BIS and the Latin American Debt Crisis of the 1980s,” National Bank of Belgium, Working Paper 247, December 2013, pg 3

27: Ibid, pg 4

28: Ibid, pg 17

29: Ibid

30: Paul Lewis, “Mexico to Receive $1.85 Billion In Loans,” New York Times, August 31, 1982 (http://www.nytimes.com/1982/08/31/business/mexico-to-receive-1.85-billion-in-loans.html)

31: Bhuvan Bhatnagar, Aubrey C. Williams, eds. Participatory Development and the World Bank: Potential Directions for Changehttp://www-wds.worldbank.org/external/default/WDSContentServer/WDSP/IB/1999/10/21/000178830_98101903552081/Rendered/PDF/multi_page.pdf (October 31, 1992), pg 103

32: Robert M. Buffington, Don M. Coerver, Suzanne B. Pasztor, Mexico Today: An Encyclopedia of Contemporary History and Culture (Santa Barbara, CA: ABC-CLIO, 2004), pg 137

33: Barry Eichengreen, Understanding Asia’s Financial Crisis, Saint John’s University, https://www.csbsju.edu/Documents/Clemens%20Lecture/lecture/Book98.pdf (November 2, 1998)34: Ibid

35: PBS, Timeline of the Crashhttp://www.pbs.org/wgbh/pages/frontline/shows/crash/etc/cron.html36: Stephen J. Brown, “The Role of Hedge Funds in Financial Crisis,” The EconoMonitor, October 20, 2008 (http://www.economonitor.com/blog/2008/10/the-role-of-hedge-funds-in-financial-crisis/)

37: Hedge Funds, Hedge Funds Studieshttp://www.fundshedge.co.uk/hedgefundsreports.htm

38: Bank For International Settlements, Mr. White discusses the Asian crisis and the Bank for International Settlementshttp://www.bis.org/review/r990331a.pdf

39: Beat Balzi, Michaela Schiessl, “The Man Nobody Wanted To Hear: Global Banking Economist Warned Of Coming Crisis,” Der Spiegel, July 8, 2009 (http://www.spiegel.de/international/business/the-man-nobody-wanted-to-hear-global-banking-economist-warned-of-coming-crisis-a-635051.html)

40: Ibid

41: John Wallace, “The Financial Crisis and the Federal Reserve,” News Blaze, September 27, 2008 (http://newsblaze.com/story/20080927140845tsop.nb/topstory.html)

42: Bernie Sanders, The Fed Audithttp://www.sanders.senate.gov/newsroom/press-releases/the-fed-audit (July 21, 2011)

43: Brian Blackstone, “International Finance: BIS Warns Countries About Risks of Debt,” Wall Street Journal, June 29, 2010

44: Ambrose Evans-Pritchard, “Sovereign Debt Crisis At ‘Boiling Point,’ Warns Bank for International Settlements,” The Telegraph, April 8, 2010 (http://www.telegraph.co.uk/finance/economics/7564748/Sovereign-debt-crisis-at-boiling-point-warns-Bank-for-International-Settlements.html)

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s