Michael McLeay, Amar Radia và Ryland Thomas

+ Bài viết này cho thấy đa số tiền trong nền kinh tế hiện đại được tạo ra thông qua việc cho vay của các ngân hàng thương mại như thế nào.

+ Việc tạo tiền trong thực tế khác với một vài quan niệm sai lầm phổ biến- các ngân hàng không chỉ đơn thuần là như những trung gian, cho vay tiền gửi mà người gửi tiền kí gởi cho nó, và nó cũng không “nhân” (“multiply up”) tiền ngân hàng trung ương lên để tạo ra các khoản vay mới và tiền gửi mới.

+ Lượng tiền được tạo ra trong nền kinh tế rốt cuộc phụ thuộc vào chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương. Trong thời kỳ bình thường, điều này được thực hiện bằng cách thiết lập những mức lãi suất. Ngân hàng trung ương cũng có thể tác động trực tiếp đến lượng tiền thông qua việc mua tài sản hay “nới lỏng định lượng” (“quantitative easing”).

Tổng quan

Trong nền kinh tế hiện đại, hầu hết tiền tồn tại dưới dạng tiền gửi ngân hàng (bank deposits). Nhưng cách thức mà những khoản tiền gửi ngân hàng được tạo ra đó thường bị hiểu sai: cách chính là thông qua việc cho vay của các ngân hàng thương mại. Bất cứ khi nào một ngân hàng tiến hành cho vay, nó đồng thời tạo ra một lượng tiền gửi tương ứng trong tài khoản ngân hàng của người đi vay, do đó tạo ra tiền mới.

Thực tế cách thức mà tiền được tạo ra ngày nay khác với sự mô tả trong một số giáo trình kinh tế học:

  • Thay vì các ngân hàng nhận tiền gửi khi hộ gia đình tiết kiệm và sau đó cho vay chúng, việc cho vay của ngân hàng tạo ra tiền gửi.
  • Trong thời kỳ bình thường, ngân hàng trung ương không ấn định lượng tiền lưu thông, tiền ngân hàng trung ương cũng không “nhân lên” thành nhiều khoản vay và tiền gửi.

Mặc dù các ngân hàng thương mại tạo tiền thông qua việc cho vay, nhưng nó không thể làm như vậy một cách tự do như không hề có ràng buộc gì. Các ngân hàng bị giới hạn lượng tiền mà nó có thể cho vay nếu nó muốn duy trì khả năng sinh lời trong một hệ thống ngân hàng cạnh tranh. Quy định thận trọng cũng đóng vai trò như một ràng buộc về các hoạt động của các ngân hàng nhằm duy trì khả năng phục hồi của hệ thống tài chính. Bên cạnh đó, hộ gia đình và doanh nghiệp, những chủ thể nhận tiền được tạo ra từ việc cho vay mới có thể có những hành động làm ảnh hưởng đến lượng cung tiền (stock of money). Ví dụ, họ có thể “phá hủy” tiền một cách nhanh chóng bằng cách sử dụng chúng để trả khoản nợ hiện tại của họ.

Chính sách tiền tệ đóng vai trò như ràng buộc cuối cùng của việc tạo tiền. Ngân hàng Anh cố gắng đảm bảo lượng tiền tạo ra trong nền kinh tế phù hợp với mức lạm phát thấp và ổn định. Trong thời kỳ bình thường, Ngân hàng Anh thực hiện chính sách tiền tệ bằng cách qui định mức lãi suất đối với các khoản dự trữ ở ngân hàng trung ương. Điều này sau đó tác động đến một loạt các lãi suất trong nền kinh tế, bao gồm cả mức lãi suất cho vay của các ngân hàng.

Trong những trường hợp đặc biệt, khi các lãi suất nằm ở ngưỡng giới hạn thấp hơn hiệu quả (effective lower bound), sự tạo tiền và chi tiêu trong nền kinh tế vẫn có thể quá thấp để phù hợp với các mục tiêu của chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương. Một phản ứng có thể là thực hiện việc thu mua một loạt tài sản, hay “nới lỏng định lượng” (“quanlitative easing”- QE). QE được kì vọng nhằm tăng lượng tiền trong nền kinh tế một cách trực tiếp thông qua việc mua tài sản, chủ yếu là từ các công ty tài chính phi ngân hàng.

QE ban đầu làm tăng lượng tiền gửi ngân hàng mà những công ty đó nắm giữ (thay vì các tài sản mà nó bán). Những công ty đó sau đó sẽ muốn tái cấu trúc danh mục tài sản của nó bằng cách mua những tài sản có tỷ suất sinh lợi cao hơn. Điều này làm tăng giá của các tài sản đó và kích thích chi tiêu trong nền kinh tế.

Như một phụ phẩm của QE, những khoản dự trữ mới ở ngân hàng trung ương được tạo ra. Nhưng chúng không phải là một phần quan trọng của cơ chế truyền dẫn. Bài viết này giải thích làm thế nào, cũng giống như trong những thời kỳ bình thường, những khoản dự trữ này không thể được nhân thành nhiều khoản vay và tiền gửi, và làm thế nào những khoản dự trữ này không đại diện cho “tiền tự do – free money” của các ngân hàng.

Nhấp vào đây để xem một đoạn video ngắn, được quay ở các hầm vàng của Ngân hàng, thảo luận về một số chủ đề chính từ bài viết này.

Giới thiệu

“Tiền trong nền kinh tế hiện đại: một lời giới thiệu”, một bài viết đi kèm với bài viết này, cung cấp một cái nhìn tổng quan về những gì là tiền và các loại tiền khác nhau tồn tại trong một nền kinh tế hiện đại. Đồng thời nó đề cập ngắn gọn cách thức mà mỗi loại tiền được tạo ra. Bài viết này tìm hiểu sự tạo tiền trong nền kinh tế hiện đại một cách chi tiết hơn.

Bài viết này mở đầu bằng việc phác họa hai quan niệm sai lầm phổ biến về sự tạo tiền, và giải thích tại sao, trong nền kinh tế hiện đại, phần lớn tiền được tạo ra bởi việc cho vay của các ngân hàng thương mại.[2] Kế đến thảo luận về các ràng buộc đối với khả năng tạo tiền của hệ thống ngân hàng, cũng như vai trò quan trọng của các chính sách của ngân hàng trung ương trong việc đảm bảo tăng trưởng tín dụng và tiền phù hợp với sự ổn định tiền tệ và tài chính trong nền kinh tế. Phần cuối cùng của bài viết này thảo luận về vai trò của tiền trong cơ chế truyền dẫn tiền tệ trong thời kỳ nới lỏng định lượng (QE), và xua tan những chuyện hoang đường xung quanh việc tạo tiền và QE. Một đoạn video ngắn giải thích một số chủ điểm được trình bày trong bài viết này.[3]

Hai quan niệm sai lầm về việc tạo ra tiền

Hầu hết tiền mà công chúng nắm giữ nằm dưới dạng tiền gửi ngân hàng. Nhưng “xuất thân” của lượng tiền gửi ngân hàng thường bị hiểu sai. Một quan niệm sai lầm phổ biến là các ngân hàng chỉ đơn thuần là những trung gian, cho vay tiền gửi mà người gửi tiền kí gởi cho nó. Theo quan điểm này tiền gửi điển hình được “tạo ra” thông qua các quyết định tiết kiệm của hộ gia đình, và sau đó các ngân hàng cho những người đi vay, ví dụ như cho các doanh nghiệp đang tìm kiếm nguồn tài trợ cho các khoản đầu tư, hay các cá nhân muốn mua nhà, “vay” những khoản tiền gởi hiện có.

Trong thực tế, khi các hộ gia đình lựa chọn để tiết kiệm thêm tiền trong tài khoản ngân hàng, những khoản tiết kiệm đó đơn giản chỉ gây thiệt thòi cho tiền kí gởi, vì nếu không tiết kiệm chúng đã được chuyển đến các doanh nghiệp nhằm thanh toán cho việc mua hàng hóa và dịch vụ. Tiết kiệm không tự nó làm tăng tiền gởi hay “vốn khả dụng- funds available” để các ngân hàng cho vay. Thật vậy, việc xem các ngân hàng đơn thuần chỉ là những trung gian đã lờ đi sự thật rằng, trong thực tế của nền kinh tế hiện đại, các ngân hàng thương mại là những người tạo tiền gửi. Bài viết này cho thấy, hành động cho vay của các ngân hàng tạo ra tiền gửi, chứ không phải là các ngân hàng cho vay tiền gửi mà nó huy động được như thường được mô tả trong các giáo trình.[4]

Một quan niệm sai lầm phổ biến khác là ngân hàng trung ương quyết định lượng cho vay và tiền gửi trong nền kinh tế bằng cách kiểm soát lượng tiền ngân hàng trung ương- mà thường được gọi là phương pháp tiếp cận “số nhân của tiền”. Theo quan điểm đó, các ngân hàng trung ương thực hiện chính sách tiền tệ bằng cách chọn một lượng dự trữ. Và, với giả định là tỉ lệ giữa lượng tiền theo nghĩa rộng và tiền cơ sở là không đổi, những khoản dự trữ này sau đó được “nhân lên” một sự thay đổi lớn hơn nhiều trong các khoản cho vay và tiền gửi ngân hàng. Theo lý thuyết đó, lượng dự trữ phải là một ràng buộc chặt đối với việc cho vay, và ngân hàng trung ương phải trực tiếp quyết định lượng dự trữ. Trong khi lý thuyết số nhân của tiền có thể là một cách hữu hiệu để giới thiệu tiền và ngân hàng trong các giáo trình kinh tế, nó không phải là một mô tả chính xác cách thức mà tiền được tạo ra trong thực tế. Thay vì kiểm soát lượng dự trữ, các ngân hàng trung ương ngày nay thường thực hiện chính sách tiền tệ bằng cách thiết lập giá của các khoản dự trữ – tức các lãi suất.

Trong thực tế, dự trữ không phải là một ràng buộc chặt đối với việc cho vay, và cũng không phải ngân hàng trung ương cố định lượng dự trữ có sẵn. Giống như mối quan hệ giữa tiền gửi và tiền cho vay, mối quan hệ giữa dự trữ và tiền cho vay thường vận hành theo cách ngược với những gì được mô tả trong một số giáo trình kinh tế học. Các ngân hàng quyết định cho vay bao nhiêu trước hết phụ thuộc vào các cơ hội cho vay có khả năng sinh lời mà nó có – điều này sẽ phụ thuộc chủ yếu vào lãi suất được thiết lập bởi Ngân hàng (trung ương – ND) Anh. Những quyết định cho vay này quyết định bao nhiêu tiền gửi ngân hàng được tạo ra bởi hệ thống ngân hàng. Lượng tiền gửi ngân hàng tác động trở lại lượng tiền ngân hàng trung ương mà các ngân hàng muốn nắm giữ dưới dạng dự trữ (để đáp ứng việc rút tiền của công chúng, thanh toán cho các ngân hàng khác, hay đáp ứng các qui định về thanh khoản), mà trong thời kì bình thường, nó được cung ứng bởi Ngân hàng Anh. Phần còn lại của bài viết này thảo luận các vấn đề thực tiễn này một cách chi tiết hơn. Sự tạo tiền.

(còn tiếp)

Nguyễn Minh Cao Hoàng dịch

Nguồn: “Money creation in the modern economy“, Bank of England, Quarterly Bulletin, 2014 Q1

———

Chú thích

[2] Trong bài viết này, Thuật ngữ “các ngân hàng” và “các ngân hàng thương mại” được sử dụng để chỉ các ngân hàng và các định chế tài chính được biết dưới tên gọi là “building society”.

[3] Xem tại www.youtube.com/watch?v=CvRAqR2pAgw.

[4] Có một tài liệu dài thừa nhận bản chất “nội sinh” của sự tạo tiền trong thực tế. Ví dụ, xem Moore (1988), Howells (1995) and Palley (1996).

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s