Sự tạo tiền trong thực tế

Cho vay tạo ra tiền gửi – Xác định tiền theo nghĩa rộng ở cấp độ tổng gộp

Như đã giải thích trong phần “Tiền trong nền kinh tế hiện đại: một lời giới thiệu”, tiền theo nghĩa rộng là thước đo của tổng lượng tiền mà hộ gia đình và doanh nghiệp trong nền kinh tế nắm giữ. Tiền theo nghĩa rộng bao gồm tiền gửi ngân hàng – mà chủ yếu là các giấy nợ (IOUs) từ các ngân hàng thương mại cho các hộ gia đình và doanh nghiệp – và tiền – phần lớn là các IOU từ ngân hàng trung ương.[5],[6] Trong hai loại tiền theo nghĩa rộng, tiền gửi ngân hàng chiếm đại đa số – 97% lượng tiền hiện đang lưu thông.[7] Và trong nền kinh tế hiện đại, các khoản tiền gửi ngân hàng đó chủ yếu do chính các ngân hàng thương mại tạo ra.

Các ngân hàng thương mại tạo tiền, dưới dạng tiền gửi ngân hàng, bằng cách cho vay mới. Khi một ngân hàng cho vay, ví dụ như cho một người nào đó vay thế chấp để mua nhà, thì thường không thực hiện theo cách đưa cho người đó hàng ngàn bảng Anh tiền giấy. Thay vào đó, nó ghi có trong tài khoản ngân hàng của người đó một khoản tiền gửi ngân hàng bằng khoản vay thế chấp. Khi đó, tiền mới được tạo ra. Vì lý do này, một số nhà kinh tế học đã xem khoản tiền gửi ngân hàng như là “bút tệ” – loại tiền được tạo ra từ nét bút của ngân hàng khi nó phê duyệt các khoản vay.[8]

Quá trình này được minh họa trong Hình 1, nó cho thấy việc cho vay mới tác động đến bảng cân đối kế toán của các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế như thế nào (sơ đồ bảng cân đối kế toán tương tự được giới thiệu trong phần “Tiền trong nền kinh tế hiện đại: một lời giới thiệu”). Như thể hiện trong hàng thứ ba của Hình 1, các khoản tiền gửi mới làm tăng tài sản của người tiêu dùng (ở đây đại diện cho hộ gia đình và doanh nghiệp) – các thanh màu đỏ thêm – và khoản vay mới làm tăng nợ của họ – các thanh màu trắng thêm. Tiền theo nghĩa rộng mới đã được tạo ra. Tương tự như vậy, cả hai bên trong bảng cân đối kế toán của ngân hàng thương mại tăng lên bởi tiền mới và các khoản cho vay mới được tạo ra. Điều quan trọng cần lưu ý là mặc dù sơ đồ đơn giản của Hình 1 cho thấy lượng tiền mới được tạo ra đồng nhất với số tiền cho vay mới, trong thực tế sẽ có một vài yếu tố có thể khiến số tiền gởi khác với số tiền cho vay. Những điều này sẽ được thảo luận chi tiết trong phần tiếp theo.

Trong khi tiền theo nghĩa rộng mới được tạo ra trên bảng cân đối kế toán của người tiêu dùng, dòng đầu tiên của Hình 1 cho thấy rằng không có – ít nhất là ban đầu – bất kỳ sự thay đổi nào trong lượng tiền ngân hàng trung ương hay “tiền cơ sở”. Như đã thảo luận ở trên, lượng tiền gửi cao hơn có thể có nghĩa là các ngân hàng muốn hoặc bị bắt buộc nắm giữ thêm tiền ngân hàng trung ương để đáp ứng sự rút tiền của công chúng hoặc để thanh toán cho các ngân hàng khác. Và trong thời kỳ bình thường, các khoản dự trữ được Ngân hàng Anh đáp ứng “theo yêu cầu” của các ngân hàng thương mại thông qua việc trao đổi các tài sản khác trên bảng cân đối kế toán của nó. Chẳng có cách nào tổng lượng dự trữ ràng buộc trực tiếp lượng cho vay của ngân hàng hay sự tạo tiền gửi.

Mô tả về sự tạo tiền này trái ngược với quan niệm cho rằng các ngân hàng chỉ có thể cho vay tiền có sẵn từ trước (pre-existing money), như nêu ở phần trên. Tiền gửi ngân hàng chỉ đơn giản là một sự ghi nhận về số tiền mà chính ngân hàng nợ khách hàng. Vì vậy, chúng là một khoản nợ của ngân hàng, chứ không phải là một tài sản có thể cho vay. Một quan niệm sai lầm liên quan là các ngân hàng có thể cho vay khoản dự trữ của họ. Khoản dự trữ chỉ có thể được cho vay giữa các ngân hàng, vì người tiêu dùng không có tài khoản dự trữ tại Ngân hàng Anh.[9]

Hình 1: Sự tạo tiền từ việc cho vay thêm của khu vực ngân hàng(a)

Các cách khác để tạo và phá hủy tiền gửi

Cũng giống như việc cho vay mới tạo ra tiền, thì việc hoàn trả khoản vay ngân hàng sẽ phá hủy tiền.[10] Ví dụ, giả sử một người tiêu dùng đã tiêu tiền trong siêu thị suốt cả tháng bằng thẻ tín dụng. Mỗi lần mua hàng bằng thẻ tín dụng sẽ làm tăng dư nợ trên bảng cân đối kế toán của người tiêu dùng và tiền gửi trên bảng cân đối kế toán của siêu thị (theo cách tương tự như trong Hình 1). Nếu người tiêu dùng sau đó thanh toán đầy đủ hóa đơn thẻ tín dụng của họ vào cuối tháng, thì ngân hàng sẽ giảm lượng tiền gửi trong tài khoản của người tiêu dùng một lượng đúng bằng giá trị của hóa đơn thẻ tín dụng, do đó phá hủy tất cả số tiền mới được tạo ra.

Các ngân hàng cho vay và người tiêu dùng hoàn trả chúng là những cách quan trọng nhất để tạo ra và phá hủy tiền gửi ngân hàng trong nền kinh tế hiện đại. Nhưng chúng không phải là những cách duy nhất. Sự tạo tiền gửi hay phá hủy cũng sẽ xảy ra bất cứ lúc nào khi khu vực ngân hàng (bao gồm cả ngân hàng trung ương) mua hay bán tài sản hiện có từ hay cho người tiêu dùng, hoặc thường xuyên hơn là từ các doanh nghiệp hay chính phủ.

Các ngân hàng mua và bán trái phiếu chính phủ là một cách đặc biệt quan trọng trong việc mua hay bán tài sản hiện có bởi các ngân hàng để tạo và phá hủy tiền. Các ngân hàng thường mua và nắm giữ trái phiếu chính phủ như là một phần trong danh mục các tài sản thanh khoản của họ, cái mà có thể bán được nhanh chóng để lấy tiền ngân hàng trung ương, ví dụ như những người gửi tiền muốn rút tiền với số tiền lớn.[11] Khi các ngân hàng mua trái phiếu chính phủ từ khu vực tư nhân phi ngân hàng, nó thanh toán cho người bán dưới dạng tiền gửi ngân hàng.[12] Và, như sẽ thảo luận ở phần sau của bài báo này, việc mua tài sản của ngân hàng trung ương, được gọi là nới lỏng định lượng (QE), có những hệ quả tương tự như sự tạo tiền.

Tiền cũng có thể bị phá hủy thông qua việc phát hành các công cụ nợ dài hạn và vốn cổ phần của ngân hàng. Ngoài khoản tiền gửi, các ngân hàng còn giữ các khoản nợ khác trên bảng cân đối kế toán của mình. Các ngân hàng quản lý các khoản nợ của mình để đảm bảo rằng nó có ít nhất một số vốn và nợ dài hạn để giảm thiểu những rủi ro nhất định và đáp ứng các yêu cầu pháp lý. Bởi vì những khoản nợ “không phải là khoản tiền gửi” này thể hiện các khoản đầu tư dài hạn vào hệ thống ngân hàng của các hộ gia đình và doanh nghiệp nên chúng không thể chuyển thành tiền dễ dàng như tiền gửi ngân hàng và do đó làm tăng khả năng hồi phục của ngân hàng. Khi các ngân hàng phát hành các công cụ nợ dài hạn và vốn cổ phần này cho các công ty tài chính phi ngân hàng, thì các công ty đó phải trả cho các ngân hàng bằng tiền gửi ngân hàng. Điều đó làm giảm lượng tiền gửi, hay tiền, hay nợ trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng và làm tăng nợ không phải là tiền gửi.[13]

Mua bán tài sản hiện có và phát hành nợ dài hạn có thể dẫn đến khoảng cách giữa lượng tiền cho vay và tiền gửi trong nền kinh tế đóng. Bên cạnh đó, trong một nền kinh tế mở như Anh, tiền gửi có thể chuyển từ người dân trong nước cho người nước ngoài, hoặc tiền gửi bằng đồng bảng Anh có thể được chuyển thành tiền gửi ngoại tệ. Bản thân các giao dịch này không phá hủy tiền, nhưng tiền gửi của người nước ngoài và tiền gửi ngoại tệ không phải lúc nào cũng được tính như một phần của cung tiền của một quốc gia.

(còn tiếp) 

Nguyễn Minh Cao Hoàng dịch

Nguồn: “Money creation in the modern economy“, Bank of England, Quarterly Bulletin, 2014 Q1

—–

Chú thích

[5] Định nghĩa về tiền theo nghĩa rộng được sử dụng bởi Ngân hàng Anh, M4ex, cũng bao gồm một loạt khoản nợ ngân hàng rộng hơn so với tiền gửi thông thường; Xem Burgess và Janssen (2007) để biết thêm chi tiết. Để đơn giản, bài viết này mô tả tất cả các khoản nợ này như tiền gửi. Một hộp bên dưới trong bài viết này trình bày chi tiết về một loạt các đại lượng tổng gộp về tiền tệ phổ biến ở Vương quốc Anh.

[6] Khoảng 6% tiền trong lưu thông được tồn tại dưới dạng tiền kim loại, tiền này được sản xuất bởi The Royal Mint (cơ quan đúc tiền của Vương quốc Anh – ND). Trong số tiền giấy lưu hành trong nền kinh tế Anh, một số được phát hành bởi một vài ngân hàng thương mại của Scotland và Bắc Ailen, mặc dù chúng hoàn toàn khớp với tiền của Ngân hàng Anh tại Ngân hàng này.

[7] Kể từ tháng 12 năm 2013.

[8] Bút tệ được thảo luận trong Tobin (1963), người đề cập đến nó khi lập luận rằng, trong thực tế các ngân hàng không thể tạo ra một lượng tiền vô hạn.

[9] Một phần của sự nhầm lẫn có thể xuất phát từ việc một số nhà kinh tế học sử dụng thuật ngữ “dự trữ” khi nói đến “dự trữ tùy ý” (dự trữ vượt mức) – số dư vượt trên mức bắt buộc của các quy định dự trữ bắt buộc. Trong bối cảnh này, “cho vay dự trữ” có thể là một cách viết tắt để mô tả quá trình tăng cho vay và tiền gửi cho đến khi ngân hàng đạt đến tỷ lệ tối đa của nó. Khi không có yêu cầu dự trữ tại Anh quá trình này ít có liên quan hơn đối với các ngân hàng Anh.

[10] Sự sụt giảm trong cho vay ngân hàng tại Anh từ năm 2008 là một lý do quan trọng dẫn đến sự tăng trưởng tiền trong nền kinh tế thấp hơn rất nhiều so với những năm trước cuộc khủng hoảng, như đã thảo luận trong Bridges, Rossiter và Thomas (2011) và Butt cùng cộng sự (2012).

[11] Vì lý do này, việc nắm giữ một ít trái phiếu chính phủ được tính vào việc đáp ứng các yêu cầu thanh khoản thận trọng, như Farag, Harland và Nixon (2013) đã mô tả chi tiết.

[12] Trong một sơ đồ bảng cân đối kế toán như Hình 1, việc các ngân hàng mua trái phiếu chính phủ từ người tiêu dùng sẽ được thể hiện bằng sự thay đổi cấu trúc tài sản của người tiêu dùng từ trái phiếu chính phủ sang tiền gửi, song song với một sự tăng cả tiền gửi và trái phiếu chính phủ trên bảng cân đối kế toán của các ngân hàng thương mại.

[13] Việc mua trái phiếu chính phủ của các ngân hàng thương mại, cũng như việc phát hành nợ dài hạn và vốn cổ phần đã và đang ảnh hưởng quan trọng đến sự tăng trưởng tiền theo nghĩa rộng trong suốt cuộc khủng hoảng tài chính như đã thảo luận ở Bridges, Rossiter và Thomas (2011), và Butt cùng cộng sự (2012).

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s