Mặt khác, tìm kiếm sự ẩn náu đáng tin cậy ở châu Á, và đặc biệt là tại Trung Quốc, rõ ràng là hành động tự vệ nhằm vô hiệu hóa nỗ lực của phương Tây cô lập Nga và làm giảm thiểu những hậu quả của các lệnh trừng phạt kinh tế (cùng lúc với giá dầu giảm mạnh càng có ý nghĩa hơn). Nhưng, mặt khác, bước đi như thế đang vượt ra ngoài khuôn khổ của những vấn đề hiện nay. Trước hết, nó phù hợp với mục tiêu của Nga chấm dứt sự thống trị của Mỹ và hướng về phương Tây và trật tự thế giới do Mỹ đứng đầu, một trật tự thế giới quốc tế đa cực đã được Tổng thống Nga Vladimir Putin đề cập tại Hội nghị An ninh Munich vào đầu năm 2007. Theo chuyên gia Dmitry Trenin, Giám đốc Trung tâm Carnegie Moskva, tất cả điều này dẫn đến việc xem xét lại tầm quan trọng của bản đồ chính trị thế giới trong Điện Kremlin: Tầm nhìn ban đầu của ông Putin “châu Âu lớn” – từ Lisbon đến Vladivostok, bao gồm cả EU và Liên minh kinh tế Á – Âu, chuyển thành “châu Á lớn” từ Thượng Hải đến Saint-Peterburg. Về phương diện này, Á – Âu, ít nhất, cũng cần phải trở thành Trung tâm hấp dẫn kinh tế và chính trị mới, nơi Nga và Trung Quốc sẽ lên giọng mà không có sự can thiệp của Mỹ.

Tầm nhìn thế giới như thế có ẩn ý địa chính trị quen thuộc. Nếu tiếp nhận tầm nhìn này với tư cách vật đảm bảo phát triển tương lai, thì nó có thể có những kết quả lớn hơn nhiều. Ví dụ, trên tinh thần của nhà địa lý học vĩ đại người Anh, Huân tước Halford Mackinder, nơi kiểm soát  khu vực “xa xôi hẻo lánh” của Á – Âu được coi là chìa khóa thống trị thế giới (ý tưởng này được ông Aleksandr tuyên truyền tại Nga trong vòng nhiều năm và theo các tiêu chuẩn châu Âu của ông ta, phong trào tân phát xít ở Á – Âu). Một trong những sự trùng hợp như thế là một trong những bằng chứng cho thấy Điện Kremlin đã tiếp cận gần đến dường nào với những công thức của những “người yêu nước” mà rốt cục tìm thấy tương lai nước Nga trong quá khứ, sự kết hợp giữa màu trắng và màu đỏ.

Trong bối cảnh cuộc khủng hoảng Ukraine, nhiều người nhận thấy những phản ứng chống đối bên trong xen lẫn với những vấn đề chính trị đối ngoại. Điều đó không đơn thuần là việc xoay trục sang phía Đông mà chủ yếu là sử dụng mô hình phát triển của Trung Quốc: sự lãnh đạo độc tài kết hợp với chủ nghĩa tư bản nhà nước – cái gì đó tương tự như đồng nghiệp của A. Dugin trong câu lạc bộ Izborsky (cộng đồng những chuyên gia nổi tiếng chuyên phân tích các chính sách đối nội và đối ngoại của Nga) và nhân vật thân cận của Điện Kremlin về hội nhập Á – Âu Sergey Galzyev đã trình bày dưới dạng kế hoạch trí thức phức tạp.

Hay nói cách khác, việc xoay trục của Nga sang hướng Đông có thể coi đó là đỉnh điểm của khuynh hướng hướng Đông, được nghiên cứu trước cuộc khủng hoảng Ukraine từ rất lâu – kể từ khi Putin quay lại vị trí người đứng đầu nước Nga năm 2012. Đã có sự chuyển dịch mô hình tổng thể. Những gì trước đây “hiện đại hóa” trở thành “huy động hóa”. Những gì trước đây gọi là “toàn cầu hóa” trở thành “khu vực hóa” (và “nhập khẩu thay thế”). Những gì được coi là giá trị dân chủ hóa ra là những giá trị “truyền thống”. Còn những gì trước đây chỉ rõ ngang hàng với phương Tây đã trở thành bước ngoặt sang hướng Đông.

Lịch sử vấn đề

Không nghi ngờ gì nữa, Nga đã đạt được không ít thành công trong việc xoay trục sang Trung Quốc trong một thời gian khá ngắn. “Đối tác chiến lược” giữa Moskva và Brussels không thể thoát khỏi khuôn khổ những tuyên bố nhạt nhẽo, trong khi đó quan hệ đối tác giữa Trung Quốc và Nga dẫn đến quan hệ đặc quyền ưu đãi thực sự. Putin hoàn toàn đúng khi đã nhiều lần phát biểu: “Mức độ, đặc điểm và sự tin tưởng trong quan hệ song phương Nga – Trung có lẽ đã đạt được ý nghĩa chưa từng có trong lịch sử quan hệ hai nước”.

Đáng chú ý, điều tương tự cũng đã từng được sử dụng nói về mối quan hệ Nga – Đức, quả thực, khi đó câu chuyện trở nên sôi nổi hơn nhiều và sự hiểu biết lẫn nhau dựa trên những hạn chế sự bùng nổ giá trị, thoạt nhìn là điểm hội tụ trong trường hợp Trung Quốc. Bằng chứng liên minh chặt chẽ giữa Nga và Trung Quốc, ví dụ việ Đại sứ quán Nga ở Bắc Kinh chỉ kém Đại sứ quán Nga ở Washington về quy mô và rằng bất chấp thực tiễn bình thường, với Trung Quốc Nga có 4 Ủy ban liên chính phủ do các Phó Thủ tướng phụ trách. Những chuyến viếng thăm thường xuyên và nhiều hiệp định được ký kết trong quá trình hợp tác, bổ sung cho bức tranh chung. Đó là việc Trung Quốc về thực chất đã hy sinh đối tác khác của mình mà trước đây Bắc Kinh có mối quan hệ gần gũi là Ukraine, cũng như chứng minh ý nghĩa to lớn mà Bắc Kinh dành cho mối quan hệ với Moskva. Bắc Kinh giữ im lặng về việc Moskva vi phạm nguyên tắc chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ mà trước đây Nga ủng hộ, về phần mình Nga cũng làm như vậy đối với những đòi hỏi của Trung Quốc về lãnh thổ ở phía đông và đối với biển Nam Trung Hoa (Biển Đông). Bắc Kinh kiên định, lên án những lệnh trừng phạt của phương Tây và ủng hộ nỗ lực của Nga đối phó với hậu quả của những biện pháp trừng phạt này.

Trao đổi kinh tế giữa Nga và Trung Quốc, ít nhất trong lĩnh vực thương mại, cũng là một bức tranh rất lạc quan. Kể từ năm 2010, Trung Quốc là đối tác lớn nhất của Nga về thương mại song phương, kim ngạch thương mại hai chiều đạt 95 tỷ USD trong năm 2014 (vào những năm 1990 kim ngạch thương mại song phương chỉ đạt 5 – 7 tỷ USD/năm). Trên cơ sở thành công này, hai bên đã tuyên bố mục tiêu tăng cường trao đổi thương mại song phương lên 100 tỷ USD vào năm 2015 và 200 tỷ USD vào năm 2020, tốc độ tăng trưởng trung bình gần 30%, thoạt nhìn có vẻ là điều không tưởng. Tuy nhiên, trong năm 2015 thương mại giữa Nga và Trung Quốc không thể tránh được ảnh hưởng suy thoái kinh tế ở cả hai nước và sụt giảm giá dầu khí thế giới: kim ngạch hai chiều giảm 28% (xuống còn 62 tỷ USD, vả lại xuất khẩu của Trung Quốc giảm 34%, của Nga giảm 19%, phần lớn giảm do hứng chịu thiệt hại từ các biện pháp trừng phạt thương mại mà EU áp đặt chống lại Nga), chỉ trong một thời gian ngắn những mục tiêu tham vọng này lại vượt ra ngoài phạm vi có thể đạt tới.

Đầu tư song phương ít ấn tượng hơn: tính đến cuối năm 2013, khối lượng đầu tư của Trung Quốc vào nền kinh tế Nga xấp xỉ gần 5 tỷ USD (trong tổng số khối lượng đầu tư của Trung Quốc gần 115 tỷ USD), trong khi đó đầu tư của Nga vào Trung Quốc chỉ xấp xỉ 860 triệu USD. Một số chuyên gia giải thích sự sụt giảm đầu tư của Trung Quốc vào các lĩnh vực nhạy cảm như năng lượng, công nghiệp khai thác mỏ và cơ sở hạ tầng, nguyên nhân là trong vòng 15 năm trở lại đây sự tham gia của các công ty Nga đến từ Trung Quốc vào các dự án cơ sở hạ tầng lớn của Nga, không đặc biệt được khuyến khích bởi chính nước Nga. Dường như Moskva lo ngại sự gia tăng cạnh tranh với các công ty địa phương và dòng lao động nhập cư người Trung Quốc. Kế hoạch xây dựng những trạm tàu điện ngầm Moskva, cũng như tuyến đường sắt cao tốc Moskva – Kazan là những dấu hiệu thực tế đầu tiên về sự mở rộng khả năng sự tham gia của Trung Quốc.

Sự hợp tác tài chính là lĩnh vực hoạt động mới, một mặt nhằm đáp trả lệnh trừng phạt của phương Tây, mặt khác nhằm kiềm chế sự thống trị đồng USD của Mỹ. Năm 2010, Sở Giao dịch Tiền tệ liên Ngân hàng Moskva (MICEX) bắt đầu giao dịch bằng đồng ruble và đồng NDT, tuy nhiên trên thực tế việc bán ra không nhiều. Tình hình đã thay đổi mạnh mẽ vào tháng 10/2014: Ngân hàng Trung ương Nga đã ký kết 3 hiệp định về hoán đổi tiền tệ với tổng trị giá lên hơn 24,5 tỷ USD. Năm 2013, thanh toán bằng đồng ruble và NDT chiếm 2% trong thương mại song phương, vào thời điểm hiện tại hai bên hướng tới mục tiêu 50%.

Sau nhiều năm đàm phán kéo dài về mức giá, tháng 5/2014 hợp đồng khí đốt lớn đầu tiên đã được ký kết, nói về cái gọi là hành lang phương Đông. Khí đốt tự nhiên từ hai mỏ ngoài xa Chayandinsky và Kovyktinsky, cách hồ Baikal về hướng Đông, sẽ được cung cấp qua tuyến đường ống mới được xây dựng “Sức mạnh Siberi” với công suất được công bố 38 tỷ m3/năm (và có thể tăng lên gần 60 tỷ m3/năm). Mức giá khí đốt không được công bố, nhưng theo một số nguồn tin thì điều kiện và công thức hình thành giá được đối chiếu với những điều kiện mà Nga đã đạt được thỏa thuận với các kháng hàng Tây Âu của mình.

Ngày 10/11/2014, Moskva và Bắc Kinh đã ký kết thêm một nghị định thư hiểu biết lẫn nhau về vấn đề cung cấp khí đốt theo “hành lang phía Tây” mà kết nối các mỏ phía Tây Siberi (từ đó cung cấp khí đốt cho châu Âu) với Trung Quốc theo đường ống đi qua dãy núi Altai. Về mặt lý thuyết, điều đó cho phép Nga lựa chọn giữa khách hàng ở phương Đông và ở phương Tây, và đó sẽ là dự án đầu tiên hiện thực hóa giấc mơ của Gazprom về việc biến thị trường khí đốt “châu Âu” thành thị trường “Á – Âu” mà có thể phục vụ theo cách thức tự do.

(còn tiếp) 

Nguồn: Tạp chí Nước Nga trong chính sách toàn cầu (Nga)

CĐQT số 12/2016

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s