Các hội nghị toàn quốc. Chiến thắng ngoạn mục của Jackson trong năm 1828, bên cạnh những ý nghĩa khác, còn là một bài học đầy thuyết phục về giá trị của tổ chức chính trị. Cuộc bầu cử năm 1832, mà ông cũng giành được chiến thắng khá dễ dàng được đặc trưng bởi những hội nghị đảng toàn quốc đầu tiên. Hội nghị toàn quốc được xúc tiến như một phương pháp thay thế dân chủ hơn đối với các phiên họp kín trong Quốc hội vốn đã bị mất tín nhiệm, cho phép sự tham gia rộng rãi hơn nhiều của công chúng trong quá trình đề cử tổng thống. Nhưng đây cũng là một công cụ hết sức thực tế để giải quyết và điều phối các vấn đề xung đột xuất hiện trong cuộc chạy đua vào Nhà Trắng. Hội nghị toàn quốc là cơ hội để tập hợp, và sau đó là củng cố, liên minh đảng phái quốc gia. Nó tạo ra một diễn đàn để tiến hành những hoạt động chính trị nhằm thuyết phục các phe phái khác nhau trong đảng thống nhất tập hợp đằng sau một danh sách ứng cử viên tổng thống duy nhất – mà không nhất thiết phải nhất trí về bất kỳ điều gì khác. Nó cũng là một liên minh khổng lồ hết sức hăng hái, làm nòng cốt cho đội quân của đảng để chuẩn bị cho cuộc chiến đấu sắp tới.

Những người Dân chủ lại triệu tập một hội nghị toàn quốc vào năm 1836, lần này là đề cử Van Buren làm người kế nhiệm Jackson. Trong khi đó, các đối thủ chính của Jackson, bao gồm cả Henry Clay và Daniel Webster, đã tổ chức lại để thành lập Đảng Whig – một cái tên bắt nguồn từ lịch sử chính trị Anh, là biểu tượng của sự chống đối lại chế độ chuyên chế hoàng gia, điều mà những đối thủ của “Vua Andrew” Jackson rất thích viện dẫn. Là một liên minh bè phái nhằm thúc đẩy sự phát triển của đất nước song thống nhất với nhau chủ yếu ở sự căm ghét Jackson, những đảng viên Đảng Whig không tổ chức hội nghị toàn quốc, mà thay vào đó đã cố gắng chia rẽ và chinh phục, bằng cách đưa ra ba ứng cử viên tại ba khu vực. Kế hoạch của họ là kết hợp sức mạnh đằng sau ứng cử viên mạnh nhất trong Cử tri đoàn, hoặc nếu không làm được như vậy thì sẽ chuyển cuộc bầu cử sang cho Hạ viện quyết định.

Khi chiến lược này thất bại vào năm 1836, những thành viên Đảng Whig chuyển sang một chiến thuật mà đã giúp đảng này giành được vẻn vẹn hai thắng lợi trong cuộc bầu cử tổng thống: đề cử một anh hùng quân sự được mọi người biết đến mà không mang màu sắc chính trị và che đậy sự chia rẽ trong đảng bằng cách không đưa ra một cương lĩnh chung. Ứng cử viên Đảng Whig năm 1840 là William Henry Harrison, anh hùng của trận chiến Tippecanoe (chống lại một liên minh các bộ lạc thổ dân vào năm 1811) và được ca ngợi như một người mở đường cứng rắn và kiên quyết. Ông đã đánh bại Van Buren trong một cuộc chiến đã đưa sự cạnh tranh giữa các đảng phái lên một mức hoàn toàn mới – song cao hơn hay thấp hơn thì vẫn còn là vấn đề đang được tranh cãi.

Cuộc vận động bầu cử năm 1840 đã mở rộng sự cạnh tranh giữa hai đảng có tổ chức sang từng bang trên đất nước, định hình không chỉ cuộc chạy đua chiếc ghế tổng thống, mà cả cuộc đua giành các chức vụ tại mọi cấp của chính quyền. Sự cạnh tranh này đã tạo đà cho những cử tri bình thường, biến các chiến dịch vận động bầu cử thành một cảnh tượng hào hứng và sôi nổi nhất trong kỷ nguyên này. Như một sử gia trong thời kỳ này đã nhận xét:

Hàng chục nghìn nam giới và phụ nữ đã tham dự lễ hội khổng lồ của Đảng Whig tại Nashville vào năm 1840; có hàng triệu người mang các ngọn đuốc, mặc đồng phục, hô các khẩu hiệu, hoặc hò hét tới khản giọng tại vô số các cuộc diễu hành và mít tinh; những người hào hứng với chức trách vận động bỏ phiếu tại các khu vực, phục vụ rượu rum và phân phát của bố thí; và tất cả những người này – những người đã hòa mình vào trong trạng thái kích động và lo lắng khi ngày bầu cử tới gần – đang hồi hộp trước một trải nghiệm hết sức ấn tượng, thậm chí là một trải nghiệm mang tính bước ngoặt. Không có một cảnh tượng nào, một cuộc thi nào, ở nước Mỹ có thể sánh với không khí của chiến dịch vận động bầu cử.

Trên thực tế, các đảng phái giải quyết vấn đề về tình trạng lây lan của việc ngồi không hưởng lợi trong giới cử tri đông đảo bằng cách khiến cho việc tham gia của cử tri trở nên hào hứng và vui nhộn. Một dấu hiệu cho thấy thành công của họ là sự gia tăng đáng kể trong tỷ lệ người bỏ phiếu (xem Hình 12 – 3). Năm 1824, chỉ có 27% trong số những người có quyền bỏ phiếu (nam giới da trắng trưởng thành) tham gia bỏ phiếu trong cuộc bầu cử tổng thống. Khi Jackson trúng cử tổng thống vào năm 1828, tỷ lệ người đi bỏ phiếu là 55% và tỷ lệ này vẫn giữ nguyên ở mức đó trong hai cuộc tranh cử tổng thống tiếp theo. Năm 1840, khoảng 78% những người có quyền bỏ phiếu đã tham gia vào cuộc bầu cử. Người ta khó có thể hình dung ra một bằng chứng nào thuyết phục hơn về vai trò chủ chốt của các đảng phái – và sự cạnh tranh giữa các đảng phái – trong việc biến nền dân chủ đại chúng trở thành hiện thực.

Việc tham gia vào quang cảnh huyên náo xung quanh cuộc tranh cử tổng thống đã tạo ra những cảm giác mạnh mẽ về lòng trung thành đảng phái của rất nhiều cử tri. Các mối liên hệ và ràng buộc đầy cảm xúc của lòng trung thành phát triển trong bầu không khí nóng bỏng của cuộc chiến trở thành những động lực mạnh mẽ để giữ cho các đảng phái thống nhất thành một khối, ngay cả khi những căng thẳng không thể tránh khỏi bao quanh các liên minh đa dạng này đe dọa sẽ phá vỡ chúng.

Hệ thống ưu đãi người ủng hộ. Các đảng phái đang lên luôn luôn hấp dẫn những kẻ cơ hội chủ nghĩa. Các chính trị gia tập hợp dưới biểu ngữ của Jackson hoặc gia nhập phe phản đối Đảng Whig phần lớn khôn gphải là những người theo chủ nghĩa vị tha; thay vào đó, họ tiến hành công việc của đảng bởi họ đang có tham vọng tìm kiếm một chức vụ hoặc những lợi ích khác. Những động cơ này không có gì đáng ngạc nhiên hay lên án. Các đảng phái theo đuổi một lợi ích tập thể: thắng lợi cho các ứng cử viên và chính sách của đảng. Tất cả những ai ủng hộ người thắng cuộc đều được hưởng lợi từ chiến thắng của đảng cho dù họ có đóng góp vào thắng lợi đó hay không. Như vậy, nếu thiếu một số khía cạnh của lợi ích cá nhân, vấn đề những kẻ ngồi không hưởng lợi sẽ khiến cho các đảng phái chết yếu. Những người đã làm việc cho Jackson hoặc Harrison đều được nhận lợi ích từ chiến thắng như quyền đương nhiên của họ – chủ yếu là các công việc trong chính quyền, song cũng bao gồm những tập hợp đồng cung cấp lương thực và dịch vụ cho chính quyền hoặc những dự án đặc biệt mà họ có thể được lợi từ đó.

Việc theo đuổi sự ưu đãi từ chính trị, được biết đến sau này dưới cái tên hệ thống ưu đãi người ủng hộ, đã làm căng thẳng thêm cuộc cạnh tranh giữa các đảng và khiến cho chiến thắng có một tầm quan trọng đặc biệt. Bất chấp hậu quả ra sao, các nhà hoạt động đảng phái đều chứng tỏ bản thân họ sẵn sàng vượt lên trên nguyên tắc nếu như đó là cái giá phải trả cho chiến thắng. Ở khía cạnh tích cực, đặt chiến thắng lên trên nguyên tắc khiến cho các đảng phái trở nên cởi mở và dễ thu nạp thành viên. Trong một thời gian, các liên minh rộng rãi trên toàn quốc đã giúp kiềm chế cuộc xung đột rất nguy hiểm giữa các phe phái xung quanh vấn đề nô lệ và các vấn đề gây chia rẽ khác. Các lợi ích lớn hơn cũng thúc đẩy những nỗ lực tột bậc để huy động giới cử tri đông đảo nhất trong lịch sử. Xét trên khía cạnh tiêu cực, mong muốn giành chiến thắng đã góp phần tạo ra tham nhũng, sự thiển cận về đạo đức liên quan tới vấn đề nô lệ, và sự hoài nghi của công chúng đối với tính trung thực và động cơ cảu các chính trị gia. Trong cả hai trường hợp, những thành viên Đảng Dân chủ và Đảng Whig trong hệ thống đảng phái thứ hai đều đã định hình khuôn mẫu cho tương lai: mỗi đảng chính trị thành công của Mỹ đều quan tâm tới việc giành chiến thắng trong các cuộc bầu cử nhiều hơn so với việc theo đuổi nhất quán một loạt các nguyên tắc.

Trên thực tế, xung đột về nguyên tắc thường là một nguy cơ đối với các liên minh đảng phái. Các chính trị gia của những đảng phái lớn đều đặt sự thống nhất trong đảng lên hàng đầu bởi sự nghiệp của họ phụ thuộc vào điều đó, nhưng các cử tri không có cùng lợi ích như vậy và có thể thực sự quan tâm tới lập trường của đảng phái đối với những vấn đề đang tranh cãi. Đảng Whig và Đảng Dân chủ xây dựng các liên minh xung quanh những khác biệt trong chính sách kinh tế. Đảng Whig ủng hộ việc thành lập một ngân hàng quốc gia, đánh thuế quan cao để bảo hộ các nhà sản xuất Hoa Kỳ, và liên bang tài trợ cho các công trình xây dựng công cộng; những người Dân chủ phản đối việc thành lập ngân hàng cùng vai trò tích cực mà ngân hàng dự định đảm nhận trong nền kinh tế, ủng hộ mức thuế quan thấp để mang lại lợi ích cho nông dân. Cả hai đảng đều có những phe cánh thuộc miền Bắc và miền Nam và do vậy bị chia rẽ sâu sắc xung quanh vấn đề nô lệ. Những nhà lãnh đạo cố gắng giữ cho vấn đề nô lệ nằm ngoài chương trình nghị sự chính trị, nhưng điều này là không thể khi các cảm xúc lên cao độ. Khi việc mở rộng chế độ nô lệ trở thành vấn đề chi phối quốc gia, những liên minh hình thành nên hệ thống đảng phái thứ hai đã tan rã. Lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất trong lịch sử Hoa Kỳ, một đảng thứ ba đã nổi lên thay thế một trong hai đảng phái có vai trò chi phối.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Samuel Kernell & Gary C. Jacobson – Lôgích chính trị Mỹ – NXB CTQG 2007.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s