Những ràng buộc đối với sự tạo tiền theo nghĩa rộng

Mặc dù các ngân hàng thương mại tạo tiền thông qua hành vi cho vay của nó, nhưng nó không thể thực hiện điều đó mà không có ràng buộc gì. Cụ thể, giá của khoản vay – tức là lãi suất (bao gồm tất cả các loại phí) mà các ngân hàng tính – quyết định lượng tiền mà hộ gia đình và các doanh nghiệp muốn vay. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến giá của khoản vay mới. Đặc biệt là chính sách tiền tệ của Ngân hàng Anh, nó tác động đến các mức lãi suất khác nhau trong nền kinh tế.

Các ràng buộc của việc tạo tiền từ hệ thống ngân hàng đã được thảo luận trong một bài báo của nhà kinh tế học đoạt giải Nobel – James Tobin, và chủ đề này gần đây đã là đề tài tranh luận giữa các nhà bình luận kinh tế với các blogger.[14] Trong nền kinh tế hiện đại, có ba nhóm ràng buộc chính hạn chế lượng tiền mà các ngân hàng có thể tạo ra.

(i)    Bản thân các ngân hàng phải đối mặt với ràng buộc về số tiền mà nó có thể cho vay. Đặc biệt:

  • Các tác lực thị trường hạn chế cho vay, bởi vì mỗi ngân hàng phải có khả năng cho vay sinh lãi trong một thị trường cạnh tranh.
  • Cho vay cũng bị ràng buộc bởi vì các ngân hàng phải thực hiện các bước để giảm thiểu các rủi ro liên quan đến việc cho vay thêm.
  • Chính sách pháp lý đóng vai trò như một ràng buộc đối với các hoạt động của ngân hàng nhằm giảm thiểu rủi ro có thể đe dọa sự ổn định của hệ thống tài chính.

(ii)   Việc tạo tiền cũng bị ràng buộc bởi hành vi của những người nắm giữ tiền – hộ gia đình và doanh nghiệp. Hộ gia đình và doanh nghiệp nhận tiền mới được tạo ra có thể phản ứng bằng cách thực hiện các giao dịch phá huỷ tiền ngay lập tức, ví dụ bằng cách hoàn trả các khoản dư nợ.

(iii)  Ràng buộc cuối cùng đối với việc tạo tiền là chính sách tiền tệ. Thông qua việc tác động đến các mức lãi suất trong nền kinh tế, chính sách tiền tệ của Ngân hàng Anh tác động đến số tiền mà hộ gia đình và doanh nghiêp muốn vay. Điều này không chỉ xảy ra trực tiếp thông qua việc tác động đến các lãi suất cho vay của các ngân hàng, mà còn xảy ra gián tiếp thông qua tác động tổng thể của chính sách tiền tệ đối với hoạt động kinh tế trong nền kinh tế. Kết quả là Ngân hàng Anh có thể đảm bảo tăng trưởng tiền tệ phù hợp với mục tiêu lạm phát thấp và ổn định.

Phần còn lại của mục này giải thích xem trong thực tiễn mỗi cơ chế này hoạt động như thế nào.

(i)  Các ràng buộc đối với số tiền mà các ngân hàng có thể cho vay.

Các tác lực thị trường mà mỗi ngân hàng đang phải đối mặt.

Hình 1 cho thấy, đối với toàn khu vực ngân hàng, các khoản vay được tạo ra ban đầu tương thích với các khoản tiền gửi như thế nào. Nhưng điều đó không có nghĩa là bất kỳ một ngân hàng nào cũng có thể tự do cho vay và tạo ra tiền mà không ràng buộc gì. Đó là vì các ngân hàng phải có khả năng cho vay sinh lời trong một thị trường cạnh tranh và đảm bảo rằng nó có thể quản lý đầy đủ những rủi ro liên quan đến việc cho vay.

Các ngân hàng nhận được các khoản thanh toán lãi đối với tài sản của nó, chẳng hạn như các khoản cho vay, nhưng nó cũng thường phải trả lãi trên các khoản nợ của nó, chẳng hạn như các tài khoản tiết kiệm. Mô hình kinh doanh của một ngân hàng dựa vào việc nhận được lãi suất đối với các khoản cho vay (hoặc các tài sản khác) cao hơn so với lãi suất phải trả cho tiền gửi (hoặc các khoản nợ khác). Cả lãi suất đối với tài sản và lãi suất đối với nợ của các ngân hàng đều phụ thuộc vào lãi suất chính sách do Ngân hàng Anh đưa ra, điều này đóng vai trò như ràng buộc cuối cùng trong việc tạo tiền. Ngân hàng thương mại sử dụng khoản chênh lệch, hay sai lệch lãi, giữa tiền lãi kỳ vọng trên tài sản và tiền lãi đối với nợ để trang trải cho chi phí hoạt động của nó và tạo ra lợi nhuận.[15] Để cho vay thêm, mỗi ngân hàng thường phải giảm lãi suất cho vay xuống thấp hơn so với các đối thủ cạnh tranh của nó nhằm thúc đẩy hộ gia đình và doanh nghiệp vay nhiều hơn. Và một khi nó đã cho vay, nó có thể “mất” tiền gửi mà nó đã tạo ra “về tay” các ngân hàng cạnh tranh đó. Tất cả các yếu tố này đều tác động đến khả năng sinh lời trong việc cho vay của mỗi ngân hàng và tác động đến lượng tiền cho vay.

Ví dụ, giả sử một ngân hàng nào đó giảm lãi suất cho vay của mình, và thu hút một hộ gia đình thực hiện một khoản vay thế chấp để mua nhà. Tại thời điểm khoản vay thế chấp được xác lập, tài khoản của hộ gia đình được ghi có tiền gửi mới. Và một khi họ mua nhà, họ chuyển khoản tiền gửi mới của họ cho người bán nhà. Tình huống này được mô tả trong hàng đầu tiên của Hình 2. Người mua sở hữu một tài sản mới dưới hình thức một ngôi nhà và một khoản nợ mới dưới hình thức một khoản vay mới. Người bán sở hữu tiền dưới hình thức tiền gửi ngân hàng thay vì một ngôi nhà. Nhiều khả năng tài khoản của người bán và tài khoản của người mua không phải được mở ở cùng một ngân hàng. Vì vậy, khi giao dịch diễn ra, các khoản tiền gửi mới sẽ được chuyển đến ngân hàng của người bán, như mô tả trong dòng thứ hai của Hình 2. Ngân hàng của người mua sau đó sẽ có ít tiền gửi hơn tài sản. Ban đầu, ngân hàng của người mua sẽ thanh toán cho ngân hàng của người bán bằng cách chuyển những khoản dự trữ. Nhưng điều đó sẽ khiến ngân hàng của người mua có ít dự trữ và khoản cho vay so với tiền gửi hơn trước. Đây có thể là vấn đề đối với ngân hàng vì nó sẽ làm tăng rủi ro không thể đáp ứng được tất cả các dòng tiền khả dĩ. Và, trong thực tế, mỗi ngày các ngân hàng thực hiện nhiều khoản cho vay như vậy. Bởi vậy, nếu một ngân hàng nào đó tài trợ tất cả các khoản cho vay mới theo cách này, nó sẽ nhanh chóng hết sạch dự trữ.

Hình 2: Sự tạo tiền khi một ngân hàng nào đó tiến hành cho vay thêm.

Do đó, các ngân hàng cố gắng thu hút hoặc dành lại nợ bổ sung song song với khoản cho vay mới. Trên thực tế, các ngân hàng khác cũng sẽ cho vay mới và tạo ra các khoản tiền gửi mới, vì vậy có một cách để họ có thể thực hiện điều này là cố gắng thu hút một vài khoản tiền gửi mới được tạo ra. Trong một thị trường ngân hàng cạnh tranh, điều đó có thể làm tăng lãi suất tiết kiệm dành cho hộ gia đình. Thông qua việc thu hút các khoản tiền gửi mới, ngân hàng có thể tăng dư nợ tín dụng mà không bị cạn kiệt dự trữ, như mô tả trong hàng thứ ba của Hình 2. Ngoài ra, một ngân hàng có thể vay từ các ngân hàng khác hoặc thu hút các hình thức nợ khác, ít nhất là tạm thời. Tuy nhiên, dù thông qua các khoản tiền gửi hay các khoản nợ khác, ngân hàng cần đảm bảo thu hút và giữ lại một số loại vốn để tiếp tục cho vay. Và chi phí của nó cần phải được đo lường dựa trên lãi suất mà ngân hàng dự kiến ​​sẽ kiếm được từ các khoản cho vay mà nó đang thực hiện, và mức lãi suất này phụ thuộc vào mức Lãi suất Ngân hàng được qui định bởi Ngân hàng Anh. Ví dụ, nếu một ngân hàng tiếp tục thu hút những người đi vay mới và tăng cường cho vay bằng cách giảm lãi suất đối với các khoản vay thế chấp, và tìm cách thu hút các khoản tiền gửi mới bằng cách tăng lãi suất đối với tiền gửi của khách hàng thì nó có thể sớm nhận ra rằng việc tiếp tục mở rộng cho vay sẽ không có lời. Bởi vậy, sự cạnh tranh cho vay và tiền gửi, cũng như mong muốn có lợi nhuận, sẽ hạn chế việc tạo tiền của các ngân hàng.

(còn tiếp)

Nguyễn Minh Cao Hoàng dịch

Nguồn: “Money creation in the modern economy“, Bank of England, Quarterly Bulletin, 2014 Q1

—–

Chú thích

[14] Tobin (1963) lập luận rằng các ngân hàng không có “nguồn cung vô hạn – widow’s cruse”, như được đề cập trong một câu chuyện kinh thánh (được John Maynard Keynesnhắc đến trong kinh tế trước đây), trong đó một góa phụ có thể rót đầy bình (hay cái xoang hay cái lọ) dầu một cách kỳ diệu trong nạn đói. Tobin đã lập luận rằng có ràng buộc để lượng tiền vay có thể tự điều chỉnh nhằm phù hợp với lượng tiền gửi.

[15] Xem trong Button, Pezzini and Rossiter (2010), một sự giải thích về cách thức các ngân hàng định giá các khoản vay mới.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s