Thành thử, sự biến đổi của chính sách xã hội đa phần được quyết định bởi những thay đổi về cấu trúc trong quá trình phát triển kinh tế – chính trị của nền văn minh thế giới. Gắn liền với các nhân tố toàn cầu, sự thỏa hiệp lâu dài và “quy tắc ứng xử” giữa chủ thể các quá trình chính trị phù hợp với thời đại trước đã không còn nữa. Kết quả là, đồng thuận chính trị – xã hội chính thức và không chính thức, đặc biệt là các vấn đề chính sách xã hội, đã “đổ vỡ”. Các nhân tố kinh tế đối ngoại đã đặt ra nghi vấn đối với việc cấp kinh phí quy mô lớn cho các chương trình xã hội. Trong điều kiện xã hội mở và biên giới mở, các quốc gia dân tộc không thể chống lại các quá trình này một cách hiệu quả bởi các chủ tư ban có thể ngay lập tức chuyển tài sản sang các nước và các khu vực tạo điều kiện thuận lợi cho họ.

Trên thực tế lựa chọn phù hợp duy nhất là tập trung các chiến lược chính trị vào năng lực cạnh tranh cấu trúc. Ở đây đang nói về việc trợ giúp toàn diện không chỉ đối với kinh tế với tính cách là một tổ hợp thống nhất mà còn đối với năng lực cạnh tranh của xã hội và hệ thống chính trị. Kết quả là lợi ích của doanh nghiệp đã được đặt lên hàng đầu, còn doanh nghiệp, do những mong muốn và bản chất vốn có của mình cũng như do những điều kiện quốc tế mới, rất tán thành những hạn chế chặt chẽ trong chính sách xã hội, cố gắng đặt nó lệ thuộc vào lợi ích hiện tại và lâu dài của mình. Chẳng hạn, từ lâu doanh nghiệp đã muốn chấm dứt tình trạng chi tiêu xã hội ngày một tăng và giảm tham gia đầu tư cho các chương trình xã hội bắt buộc.

Trong điều kiện sử dụng rộng rãi công nghệ thông tin trong các lĩnh vực tài chính và kinh tế, tính tự chủ và độc lập của doanh nghiệp tăng lên đáng kể. Phần lớn các công ty xuyên quốc gia đều xây dựng mạng lưới các trung tâm căn cứ địa phương ở các khu vực khác nhau trên thế giới nhằm đơn giản hóa việc thâm nhập các thị trường địa phương và khu vực với mong muốn có được những đặc quyền về lao động giá rẻ và mức thuế ưu đãi, chưa kể đến mong muốn ngăn chặn và giảm bớt các rủi ro chính trị trong hoạt động của mình. Nói cách khác, tính cơ động cao của tư bản quốc tế đặc trưng cho nền văn minh hiện đại bảo đảm cho ảnh hưởng về cấu trúc và tính độc lập về chính trị của nó, mặc dù nhà nước vẫn có khả năng lớn trong việc quản lý các quá trình kinh tế – xã hội.

Dẫu sao thì nhiều vấn đề của chính sách xã hội trên thực tế đã chuyển sang cấp độ mà khả năng của các quốc gia riêng lẻ và thậm chí là của các liên minh khu vực của chúng đều trở nên hạn chế. Cần phải thường xuyên tính đến cấp độ cao hơn, cấp độ toàn thế giới mà từ đó những xung lực mạnh diễn ra. Bối cảnh mới về nguyên tắc này mặc dù mới được hình thành vào thế kỷ XX nhưng đã trở nên rõ ràng vào thế kỷ XXI. Đồng thuận chính trị ở cấp độ quốc gia chỉ có thể bảo đảm một phần việc giải quyết các vấn đề xã hội.

Trong những điều kiện đó, tư tưởng đồng thuận chính trị ở cấp độ quốc tế đã được phổ biến. Thoạt nhìn, nó có vẻ không tưởng và không thể thực hiện. Nhưng xét toàn diện thì xu thế đang phát triển theo phương hướng này, các nhân tố khách quan đang thúc đẩy tới đó. Chẳng hạn J. Stiglitz từ lâu đã bảo vệ quan điểm về sự cần thiết của các biện pháp kích thích toàn cầu đối với việc khôi phục nền kinh tế thế giới. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ, trung tâm thông qua các quyết sách chính trị lại vẫn nằm ở cấp độ quốc gia. Những tác nhân kích thích yếu ở cấp độ toàn cầu sẽ được duy trì cho đến khi nào sự phối hợp toàn cầu về chính sách kinh tế được thực hiện. Nhưng sự phối hợp này sẽ được thực hiện như thế nào nếu thiếu một cấp độ cấu trúc tích hợp mà các cơ quan quyền lực chính trị trao cho? Do đó, trên thực tế vấn đề xây dựng chính phủ thế giới và đồng thuận chính trị đã được nâng lên tầm thế giới.

Cách tiếp cận khái niệm mới và thực tiễn chính trị

Các quá trình nêu trên gây nghi ngờ đối với những nguyên tắc lãnh đạo chính trị cũ, tạo ra nguy cơ “đoạn tuyệt” với những ưu tiên trước đây trong lĩnh vực xã hội và rời bỏ mô hình bình quân phúc lợi toàn xã hội. Chính sách xã hội “lớn” trước đây đã xuất hiện như là công cụ giải cứu và ủng hộ chính trị cho lợi ích của các chủ thể kinh tế tư bản chủ nghĩa. Nhưng mô hình này từ lâu đã trở nên nặng nề và không cần thiết đối với giai cấp tư sản, hoàn toàn tốn kém và mâu thuẫn với mục tiêu thường xuyên của nó là tăng lợi nhuận tài chính. Một thời gian dài ý định “bỏ” mô hình này đã không thành công vì nó mâu thuẫn với lợi ích của đa số khi nó được củng cố. Nhưng thời gian đã làm thay đổi tính chất của xã hội, cải tổ cấu trúc xã hội, phân hóa lợi ích xã hội, điều đó khiến có thể đặt ra vấn đề hạn chế các khoản chi tiêu xã hội lớn và nhà nước phúc lợi toàn dân.

Lợi ích của giới tinh hoa kinh tế vẫn cấu thành chương trình nghị sự và chiến lược chính trị. Các chính phủ chỉ tiến hành các cải cách xã hội khi những vấn đề liên quan đến sự tác động tích cực hay tiêu cực vào các nhân tố phát triển kinh tế như năng suất, lợi nhận và sức cạnh tranh nhận được sự quan tâm thỏa đáng.

Khái niệm nhà nước “sản xuất” hay nhà nước “cạnh tranh” chính là thứ mà giai cấp cầm quyền đã và đang hướng tới và định dùng nó để thay thế cho nhà nước phúc lợi. Theo quan điểm này, nhà nước cần phải thực hiện chức năng nâng đỡ năng lực cạnh tranh, đồng hành và bảo vệ lợi ích kinh tế đối ngoại, tăng thêm ưu tiên cho các nhà sản xuất nước ngoài. Do đó, chỉ có nhà nước phúc lợi có hiệu quả với chức năng chính là tạo ra sự nâng đỡ trong điều kiện các thị trường bị sụp đổ ở chính những nơi mà khu vực tư nhân không “đứng vững” được mới có thể tương hợp với chủ nghĩa tư bản toàn cầu. Thứ logic chi phối mà trên cơ sở đó chính là nhà nước, chính sách xã hội và chính sách kinh tế hiện đại ở phương Tây được hình thành là như vậy.

Cũng cần tính đến vấn đề bảo vệ lợi ích người tiêu dùng trong nước cũng như chú ý đến những vấn đề phát triển xã hội mà tư bản ít quan tâm nhưng quan trọng với tính cách là những yếu tố thúc đẩy sự phát triển và những nhân tố liên kết hay làm tan rã xã hội. Thi đua giữa các hệ thống chính trị đang tăng lên ở cấp độ toàn cầu theo quan điểm bảo đảm những điều kiện hoạt động tốt nhất trong và ngoài nước cho các nhà sản xuất trong nước. Chính vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, các thể chế chính trị mong muốn xây dựng một mô hình mà trong đó có thể dung hòa được lợi ích xã hội (hoặc của phần lớn công dân) và của giai cấp nhà tư bản – lợi ích xã hội thể hiện qua chính sách xã hội, còn lợi ích của giai cấp nhà tư bản thể hiện qua chính sách nâng đỡ năng lực cạnh tranh.

Theo quan điểm của đại tư bản, trước hết là của bộ phận hoạt động trong những lĩnh vực đi đầu và đổi mới của nó, thì điều kiện đặc biệt quan trọng là nhà nước thông qua chính sách xã hội để thực hiện việc đầu tư vào vốn con người (lĩnh vực giáo dục và y tế) nhằm bảo đảm điều kiện cho tái sản xuất thông qua việc nâng đỡ tính năng động và tính ổn định trong hoạt động của các tập đoàn.

Như vậy, trong bối cảnh hiện nay, mục tiêu hài hòa hóa các quan hệ xã hội đặc trưng cho mô hình chính sách xã hội trước đây đã bị chuyển xuống bình diện thứ hai, nhường chỗ cho các vấn đề kinh tế. Xu hướng này xuất hiện vào những năm 1990 và phát triển vào đầu những năm 2000. Khủng hoảng kinh tế – tài chính thế giới và sự phục hồi chậm chạp và không bền vững sau đó với nguy cơ suy thoái mới lại đang tiếp tục xu hướng này.

Trước đây, vào thời kỳ nhà nước xã hội được hình thành một cách tích cực với việc cào bằng tiềm lực của các nhóm xã hội – nghề nghiệp, quyền lực cấu trúc của tư bản công nghiệp và tài chính thời đại công nghiệp đã thực sự yếu đi. Đã xuất hiện nền kinh tế hỗn hợp có khu vực nhà nước to lớn và các khoản đầu tư của nhà nước – hệ thống sản xuất phù hợp với nhiệm vụ bảo đảm các quyền không chỉ chính trị mà cả xã hội – các quyền của “công dân xã hội”. Khu vực nhà nước có thể xem như là cơ sở của nhà nước phúc lợi và khu vực tư nhân phải thích nghi với những điều kiện này, trong đó cả trên bình diện xã hội. Khi đó một trong những nhân tố then chốt của quyền lực cấu trúc tư bản tài chính – công nghiệp – quản lý quá trình đầu tư – bắt đầu bị hoài nghi.

(còn tiếp) 

Người dịch: Đoàn Tâm

Hiệu đính: Nguyễn Như Diệm

Nguồn: TN 2014 – 1 & 2

V.V. Ljublinskij là Tiến sĩ khoa học chính trị, Trưởng ban Viện Xã hội học, Viện Hàn lâm Khoa học Nga.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s