Bằng chứng quá rõ ràng, quá áp đảo: Bất luận các quốc gia đang phát triển và xã hội chủ nghĩa trước đây đã nỗ lực đến thế nào, bất kể chủ ý của họ tốt đến đâu, vẫn còn khoảng cách khổng lồ giữa cái mà luật bắt buộc đòi hỏi và cái cần phải làm để cho luật hoạt động. Luật bắt buộc là chưa đủ. Như Andrzej Rapaczynski đã chỉ ra:

Quan điểm cho rằng, chỉ đơn giản lập ra một chế độ pháp lý thích hợp là sẽ thiết lập được một tập hợp các quyền sở hữu, những cái có thể ủng hộ một hệ thống kinh tế hiện đại, là hết sức khó tin, bởi vì theo hệ thống pháp luật, hầu hết các quyền sở hữu có hiệu lực thực thi không đáng kể. Cốt lõi của thể chế quyền sở hữu là các tập quán xã hội và kinh tế không bị nghi ngờ và chủ yếu là vô thức, những cái phải có nguồn gốc từ quá trình phát triển phi luật pháp. Đây là vấn đề mà Hobbe đã nêu: khi hầu hết mọi người tuân thủ luật, chính phủ có thể thực thi luật một cách hữu hiệu và [tương đối] rẻ nhằm chống lại số ít cá nhân vi phạm luật. Nhưng khi sự tuân thủ luật bị vi phạm ở mức độ đủ lớn, không nhà chức trách nào đủ mạnh để kiểm soát tất cả mọi người. Trong tình trạng như vậy, với sự thực thi trở nên ngày càng kém hiệu quả, các cá nhân có động cơ để theo đuổi những lợi ích riêng của mình, bất chấp bất kỳ ràng buộc trên giấy nào.

Trong suốt lịch sử gần đây, các nước đang phát triển và xã hội chủ nghĩa trước đây không thiếu ý chí chính trị, ngân sách, các tuyên bố quốc tế, hoặc luật bắt buộc được thảo ra với mục đích rõ ràng để cấp các quyền tài sản cho đại đa số công dân. Vấn đề là khi các chính phủ bắt đầu bảo đảm các quyền sở hữu của những người nghèo, thì họ ứng xử như thể họ du hành ở nơi chân không về quyền sở hữu, giống như họ đáp xuống mặt trăng. Họ cho rằng tất cả những điều mà họ phải làm là lấp đầy chân không quyền sở hữu này bằng luật bắt buộc. Tuy vậy, trong hầu hết các trường hợp, không có chân không. Người dân đã nắm giữ một khối lượng tài sản khổng lồ thông qua những thỏa thuận ngoài pháp luật. Mặc dù các tài sản của những người nghèo có thể nằm ngoài luật chính thống, các quyền của họ đối với các tài sản ấy tuy thế được điều chỉnh bởi các khế ước xã hội do chính họ làm ra. Và khi luật bắt buộc không hợp với các quy ước ngoài pháp luật này, các bên của các quy ước ấy sẽ bực tức và từ chối sự xâm nhập [của luật bắt buộc].

Để luật bén rễ vào khế ước xã hội

Các khế ước xã hội về quyền sở hữu làm cơ sở cho hầu như tất cả các hệ thống quyền sở hữu và là thực tại ở mọi nước , ngay cả ở Hoa Kỳ ngày nay. Như Richard Posner nhắc nhở chúng ta, quyền sở hữu được xây dựng mang tính xã hội. Điều này có nghĩa là những thỏa thuận quyền sở hữu hoạt động tốt nhất khi người dân tạo ra một sự đồng thuận về quyền sở hữu các tài sản và các quy tắc cai quản việc sử dụng và chuyển nhượng chúng. Bên ngoài phương Tây, các khế ước xã hội thịnh hành có lý do chính đáng của nó: chúng được sử dụng tốt hơn nhiều so với luật chính thức để xây dựng sự đồng thuận thực sự giữa những người dân về việc các tài sản của họ phải được cai quản ra sao. Bất kể cố gắng nào nhằm tạo ra một hệ thống quyền sở hữu thống nhất mà không tính đến các khế ước tập thể, những cái trụ đỡ cho những thỏa thuận quyền sở hữu hiện hành, sẽ đâm sầm vào chính gốc rễ của các quyền mà hầu hết người dân dựa vào để nắm giữ các tài sản của họ. Các nỗ lực để cải cách quyền sở hữu thất bại bởi vì các quan chức chịu trách nhiệm soạn thảo các quy tắc pháp luật mới không nhận ra rằng, hầu hết công dân có các quy tắc riêng được thiết lập một cách vững chắc bởi các khế ước xã hội.

Quan niệm cho rằng các khế ước xã hội làm nền tảng cho các luật thành công bắt nguồn từ Plato, người đã nghĩ rằng sự hợp pháp phải dựa trên một loại khế ước xã hội nào đó. Ngay cả Immanuel Kant, trong phát biểu của mình chống lại Locke, đã viết rằng một khế ước xã hội phải có trước quyền sở hữu thực; tất cả các quyền sở hữu xuất phát từ sự công nhận xã hội về tính hợp pháp của một yêu sách. Để hợp pháp, một quyền không nhất thiết phải được định nghĩa bằng luật chính thức; một nhóm người ủng hộ mạnh mẽ một quy ước cá biệt nào đó là đủ để nó có thể được xác nhận như một quyền và được bảo vệ chống lại luật chính thức.

Đó là lý do vì sao luật quyền sở hữu và các chứng thư sở hữu được áp đặt mà không tham khảo các khế ước xã hội hiện hành lại liên tục thất bại: chúng thiếu tính hợp pháp. Để nhận được tính hợp pháp, chúng phải kết nối với các khế ước xã hội ngoài pháp luật, những cái xác định các quyền sở hữu hiện hành. Tất nhiên, vấn đề là những khế ước xã hội này tản mát khắp hàng trăm quyền phán xử ngoài pháp luật, nằm rải rác ở các làng mạc và vùng lân cận thành phố. Cách có hệ thống duy nhất để tích hợp những khế ước xã hội này vào một hệ thống quyền sở hữu chính thức là xây dựng một cơ cấu pháp lý và chính trị, một chiếc cầu, nếu bạn muốn, móc níu rất khéo vào những thỏa thuận ngoài pháp luật riêng của người dân, sao cho họ vui lòng đi qua nó để bước vào khế ước xã hội chính thức mới và bao trùm toàn diện này. Nhưng chiếc cầu này phải vững chắc đến mức nó không thể gãy và xua mọi người chạy tán loạn trở lại với những thỏa thuận ngoài pháp luật, một chiếc cầu rộng đến mức chẳng ai rơi khỏi nó. Đó là cách, qua hàng trăm năm, phương Tây đã làm. Harold Berman nhắc nhở chúng ta:

Việc hệ thống hóa luật trong phạm vi các cộng đồng khác nhau… có thể được chỉ bởi vì trước đó đã hình thành một cơ cấu phi chính thức về các quan hệ pháp lý ở các cộng đồng ấy rồi… Truyền thống pháp lý phương Tây đã phát sinh ra, trong quá khứ, từ cơ cấu các mối quan hệ qua lại về xã hội và kinh tế trong phạm vi và giữa các nhóm dân chúng. Các hình thái ứng xử trong mối liên hệ qua lại đã thu nhận các khía cạnh chuẩn tắc: việc sử dụng đã chuyển thành thói quen… và thói quen chuyển thành luật.

Xây dựng một chiếc cầu pháp lý và chính trị từ các khế ước xã hội nằm rải rác trong dân chúng vào một luật quốc gia là cái mà Eugen Huber đã làm ở Thụy Sĩ  vào giao điểm của thế kỷ XX. Huber đã chỉnh sửa các học thuyết La Mã của luật Thụy Sĩ cho phù hợp với các tập quán, quy tắc, và cách ứng xử tản mát khắp các thành phố, thị trấn và trang trại của đất nước ông. Ông đã tập hợp tất cả các quy ước về quyền sở hữu vào một. Ông đã tập hợp tất cả các quy ước về quyền sở hữu vào một luật đảm bảo các quyền và nghĩa vụ của người dân sống phù hợp với các tiêu chuẩn địa phương mà họ đã quen thuộc. Huber thích trích dẫn một ngạn ngữ Đức cổ, “Das Gesetz muss aus dem Gedanken des Volkes gesprochensein”, được phỏng dịch là, “Luật phải đến từ ký ức cửa miệng của nhân dân”. Luật Mỹ, như chúng ta đã thấy, cũng tôn trọng các khế ước xã hội hiện hành như thế. Sức mạnh của nó không phải là giáo lý hoặc sự nhất quán chuyên nghiệp vốn có, mà là sự hữu dụng của nó trong tay các nhà chức trách, những người đã muốn chuyển các tài sản chưa được phát triển thành các tài sản có hiệu quả.

Quá độ chuyển tiếp từ các quan hệ ngoài pháp luật sang quyền sở hữu chính thức thống nhất ở các quốc gia tiên tiến đã không được xây bằng không khí loãng. Việc hệ thống hóa các luật, những cái trụ đỡ cho các hệ thống quyền sở hữu hiện đại, là có thể vì các nhà chức trách cho phép các mối quan hệ ngoài pháp luật đã tồn tại trước giữa các nhóm dân chúng và đôi lúc thay thế cho các luật chính thức: “Luật phát sinh cả từ dưới lên, từ các cơ cấu và tập quán của toàn xã hội”, Berman viết, “và cả từ trên xuống, từc các chính sách và các giá trị của những người cai trị xã hội. Luật giúp tích hợp cả hai”.

Bằng cách làm cho luật quyền sở hữu chính thức bén rễ vào các khế ước xã hội mà người dân đã cam kết rồi, các chính phủ phương Tây đã đạt được sự chấp nhận rộng rãi của dân chúng cần thiết để vượt qua bất kể sự kháng cự nào. Kết quả là họ đã có một hệ thống pháp luật quyền sở hữu. Khi hệ thống ấy đã có, họ có khả năng bắt đầu tích hợp các quy ước tản mát vào một khế ước xã hội quốc gia. Và ở nơi một thời chỉ có chủ ngôi nhà và hàng xóm của anh ta mới có thể xác nhận liệu ngôi nhà có thuộc về anh ta hay không, thì với sự hiện diện của quyền sở hữu chính thức, cả quốc gia đã biết anh ta là chủ. Các chứng thư quyền sở hữu chính thức cho phép người dân di chuyển những thành quả lao động của họ từ một phạm vi hẹp của sự hợp thức hóa sang phạm vi một thị trường rộng mở. Như vậy, các quốc gia phương Tây đã bố trí thiết bị năng lượng để cấp nguồn cho một thị trường hiện đại và hệ thống tư bản chủ nghĩa.

Chuyển sự công nhận quyền sở hữu từ các thỏa thuận địa phương sang một trật tự lớn hơn các mối quan hệ kinh tế và xã hội đã làm cho cuộc sống và công việc kinh doanh dễ dàng hơn nhiều. Người dân không còn phải dựa vào công việc chính trị thiển cận phiền toái để bảo vệ các quyền của họ đối với các tài sản. Quyền sở hữu chính thức đã giải phóng họ khỏi những thỏa thuận địa phương tốn kém thời gian vốn gắn với các xã hội đóng kín. Bây giờ họ có thể kiểm soát các tài sản của mình. Thậm chí tốt hơn, với các biểu diễn thỏa đáng trong tay, họ có thể tập trung vào khả năng kinh tế của các tài sản của mình. Và bởi vì bất động sản và doanh nghiệp của họ bây giờ có thể được định vị dễ dàng và được nhận diện trên toàn quốc, nên những người chủ không còn ẩn danh và trở nên có trách nhiệm giải trình. Dần dần, các cơ chế này của quyền sở hữu hợp pháp làm cho các thị trường mở rộng và quá trình tạo vốn với số lượng khổng lồ người tham gia trở thành hiện thực.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Hernando de Soto – Bí ẩn của vốn – NXB CTQG 2016.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s